Tín dụng chính sách thúc đẩy phục hồi kinh tế

10:47 | 24/02/2021

Việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng của thành phố, xây dựng thành phố “4 an”; thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự xã hội.

tin dung chinh sach thuc day phuc hoi kinh te Tín dụng chính sách: Trụ cột giảm nghèo ở xứ Thanh
tin dung chinh sach thuc day phuc hoi kinh te Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho người nghèo và đối tượng chính sách
tin dung chinh sach thuc day phuc hoi kinh te Tín dụng chính sách xã hội: Tiếp sức phát triển kinh tế vùng ven biển

Thời gian qua, TP. Đà Nẵng phải đối mặt với nhiều thách thức do thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 đã tác động nghiêm trọng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, hoạt động kinh tế, xã hội bị ngưng trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

Trước thực tế này, chính quyền địa phương đã nhanh chóng vào cuộc triển khai các chính sách hỗ trợ để người dân, doanh nghiệp khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó, Đà Nẵng đã tăng cường nguồn vốn ủy thác sang Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) TP. Đà Nẵng để cho vay. Qua đó, cùng với nguồn vốn của Trung ương giúp bà con thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, các đối tượng chính sách từng bước khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh và an sinh xã hội.

Ông Đoàn Ngọc Chung, Giám đốc NHXSXH TP. Đà Nẵng cho hay, trong quá trình triển khai thực hiện tín dụng chính sách xã hội, được sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy Đà Nẵng, HĐND, UBND thành phố và các sở, ngành, sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức chính trị, xã hội nhận ủy thác, sự chỉ đạo sát sao của Ban đại diện HĐQT NHCSXH thành phố, quận, huyện đã nỗ lực tổ chức, triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách triển khai trên địa bàn. Qua đó, góp phần rất lớn vào việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, xây dựng nông thôn mới, ổn định chính trị, an sinh xã hội và phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong bối cảnh khó khăn như vừa qua, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với hoạt động tín dụng chính sách.

tin dung chinh sach thuc day phuc hoi kinh te
Các chương trình tín dụng chính sách đang được triển khai hiệu quả tại Đà Nẵng

Cùng với đó, sự nỗ lực của đội ngũ làm công tác tín dụng chính sách đã mang lại hiệu quả tích cực, giúp các đối tượng thụ hưởng tiếp cận nguồn vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống…

Đến cuối năm 2020, tổng nguồn vốn của chi nhánh hơn 2.867 tỷ đồng, tăng 465 tỷ đồng (19,33%) so với năm 2019. Trong đó, nguồn vốn nhận ủy thác đầu tư tại địa phương 1.249,7 tỷ đồng (thành phố 1.182,1 tỷ đồng và quận, huyện 67,5 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 43,6%/tổng nguồn vốn, tăng 367,6 tỷ đồng so với năm 2019. Có 7 quận, huyện có vốn ủy thác từ ngân sách địa phương.

Hiện Đà Nẵng có 70.812 khách hàng còn dư nợ, với tổng dư nợ 2.861 tỷ đồng, tăng 464 tỷ đồng (19,33%) so năm 2019, đạt và vượt kế hoạch đề ra (12%).

Năm 2020, chi nhánh triển khai cho vay theo Quyết định số 3212/QĐ-UBND của UBND thành phố để cho các hộ gia đình, cá nhân còn nợ tiền sử dụng đất tái định cư vay trả nợ đúng hạn và các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện giải tỏa, di dời nhà vay xây nhà để ở. UBND TP. Đà Nẵng đã ủy thác sang NHCSXH đợt 1 số tiền 100 tỷ để triển khai cho vay 2 chương trình tín dụng mới. Đến 31/12/2020, đã giải ngân cho vay 73 khách hàng với số tiền 10,591 tỷ đồng.

Cùng đó, chi nhánh triển khai cho vay người sử dụng lao động để trả lương ngừng việc đối với người lao động do đại dịch Covid-19. Chi nhánh đã giải ngân cho 3 khách hàng, với số dư nợ 742 triệu đồng để trả lương cho 318 lao động ngừng việc.

Song song với tăng trưởng tín dụng, năm 2020, chi nhánh triển khai tốt các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. Nhờ đó, tổng nợ xấu (nợ quá hạn và nợ khoanh) toàn thành phố chỉ còn 2,620 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,09% tổng dư nợ (giảm 574 triệu đồng so năm 2019). Chỉ tiêu nợ xấu, nợ quá hạn các quận, huyện đều đạt và vượt theo Nghị quyết Ban đại diện thành phố giao…

Ông Hồ Kỳ Minh, Phó chủ tịch thường trực UBND TP. Đà Nẵng cho rằng, vốn tín dụng chính sách xã hội đã được đầu tư đến 100% xã, phường. 100% người nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ điều kiện đều được tiếp cận với các chương trình tín dụng chính sách xã hội.

Cũng trong năm 2020, NHCSXH đã cho vay 3.033 lượt hộ nghèo, cận nghèo, thoát nghèo bổ sung nguồn vốn sản xuất kinh doanh, vươn lên trong cuộc sống, thoát nghèo bền vững. Duy trì, mở rộng và tạo việc làm mới cho 18.623 lao động. 806 học sinh sinh viên được vay vốn để trang trải chi phí học tập; cho vay xây dựng 2.744 công trình nước sạch, 2.635 công trình vệ sinh môi trường ở huyện Hòa Vang, 248 khách hàng vay vốn nhà ở xã hội, 19 khách hàng hoàn lương, 343 cán bộ, công chức, người lao động có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn....

Ông Minh nhấn mạnh, việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng của thành phố, xây dựng thành phố “4 an”; thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự xã hội. Đó là thành quả cần tiếp tục duy trì và phát huy.

Tuy nhiên, công tác tín dụng chính sách vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục như: nguồn vốn huy đồng từ các tổ chức, cá nhân chưa cao; số người vay vốn bỏ đi khỏi nơi cư trú nhiều. Hiện vẫn còn 127 khách hàng đi khỏi nơi cư trú, với số tiền 2,218 tỷ đồng. Hay như, chất lượng tín dụng chính sách chưa đồng đều tại một số địa bàn. Một số đơn vị có nợ quá hạn tăng so với năm 2019. Đây là những vấn đề đòi hỏi NHCSXH, các tổ chức, đoàn thể và chính quyền các địa phương cần có giải pháp khắc phục để thực hiện tốt hơn hoạt động tín dụng chính sách trong năm 2021 và những năm tiếp theo.

Bài và ảnh Công Thái

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800