TP.HCM: Doanh nghiệp phục hồi sau dịch

09:19 | 24/08/2022

Khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) cho thấy, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dần ổn định, bắt đầu tăng trưởng trở lại khi có tới 26% số doanh nghiệp xác nhận doanh thu đang tăng.

tphcm doanh nghiep phuc hoi sau dich Hỗ trợ doanh nghiệp đưa hàng Việt về nông thôn
tphcm doanh nghiep phuc hoi sau dich Trái phiếu doanh nghiệp chờ khung pháp lý
tphcm doanh nghiep phuc hoi sau dich Doanh nghiệp nợ đọng bảo hiểm: Người lao động bức xúc và sốt ruột

Số lượng doanh nghiệp có doanh thu giảm chỉ chiếm 17%, trong khi 57% doanh nghiệp xác nhận doanh thu đã cơ bản tạm ổn. Về lợi nhuận, có 21% doanh nghiệp tăng, 44% doanh nghiệp cơ bản tạm ổn và 34% doanh nghiệp giảm lợi nhuận.

Thống kê của ngành công thương TP.HCM cũng cho thấy, việc nhiều lĩnh vực đạt chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trong 7 tháng đầu năm 2022 đã tạo cơ sở cho doanh nghiệp tăng tốc sản xuất kinh doanh trong những tháng cuối năm và kỳ vọng đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của cả năm.

Đối với ngành công nghiệp cấp II, có 23/30 ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có mức tăng cao như công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất đồ uống; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu... Bốn ngành công nghiệp trọng điểm của TP.HCM cũng có chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2022 tăng 12,2% so với cùng kỳ. Còn 3 ngành công nghiệp truyền thống có chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2022 tăng 8,4% so với cùng kỳ.

tphcm doanh nghiep phuc hoi sau dich
Ảnh minh họa.

Ông Trương Tiến Dũng, Phó Chủ tịch thường trực Hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM cho biết, TP.HCM là nơi tập trung các doanh nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm nhiều nhất cả nước ở tất cả các loại hình quản lý với mức độ tập trung đa dạng mặt hàng sản xuất lên đến 70%.

Ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm của TP.HCM phục vụ cho thị trường cả nước cũng như cho xuất khẩu. Tính đến thời điểm này, chỉ số sản xuất ngành lương thực, thực phẩm và đồ uống của thành phố đã lấy lại đà tăng trưởng với mức khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2021 là một tín hiệu tích cực cho sản xuất công nghiệp. Đây cũng sẽ là cơ sở cho phép doanh nghiệp kỳ vọng vào sự khởi sắc kinh doanh và bứt phá sản xuất trong những tháng cuối năm 2022.

Song song với những con số khả quan trên, sau khảo sát, HUBA cũng chỉ ra nhiều khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp hiện đang phải đối mặt.

Cụ thể, sau dịch Covid-19, nhu cầu tiêu dùng tăng cao nhưng các doanh nghiệp không còn nhiều hàng hóa để cung cấp; dịch bệnh đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng, các thị trường truyền thống bị thu hẹp đáng kể; hệ thống logistics bị ảnh hưởng nặng nề nay lại thêm nguy cơ tắc nghẽn do xung đột ở Châu Âu làm cho các luồng vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa thêm khó khăn. Từ đó, các hợp đồng đã ký kết thậm chí không thể thực hiện.

Số liệu cũng cho thấy, có 31% doanh nghiệp hiện bị thu hẹp thị trường; 51% doanh nghiệp gặp khó khăn giá nguyên liệu đầu vào tăng, trong đó thiếu vốn kinh doanh chiếm 31%, thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh chiếm 14%... Và khó khăn lớn nhất của đa số các doanh nghiệp là tìm kiếm nguồn nhân lực phù hợp.

Ông Phạm Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch Thường trực HUBA cho biết trong thời gian tới, Hiệp hội sẽ tập trung kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp hội viên tiếp cận các chương trình hỗ trợ của Chính phủ, TP.HCM để phục hồi sản xuất; đồng thời tiếp tục báo cáo, phản ánh kịp thời kết quả doanh nghiệp tiếp cận các chương trình trên, đặc biệt là những vấn đề vướng mắc để lãnh đạo thành phố xem xét giải quyết kịp thời. Cùng với đó, Hiệp hội tiếp tục kiểm tra, đôn đốc tổ chức thực hiện các chương trình đã và đang triển khai đảm bảo chất lượng, tiến độ thời gian theo kế hoạch đã đề ra; xây dựng kế hoạch, biện pháp cụ thể đẩy mạnh công tác kết nối; tăng cường tuyên truyền, vận động, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt chương trình chuyển đổi số…

Đối với vấn đề khó khăn về nguồn nhân lực, lãnh đạo HUBA cũng kiến nghị sửa đổi, ban hành các chính sách với nhiều lợi ích cụ thể, hữu hiệu cho doanh nghiệp, như tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, công đoàn… hay việc cho vay mua nhà ở áp dụng cho công nhân.

Bên cạnh đó, HUBA cũng đề nghị thành phố quan tâm kịp thời xét duyệt các đề án xây dựng nhà ở xã hội, khu nhà ở công nhân để người lao động yên tâm về chỗ ăn nghỉ; vận dụng các quỹ tài chính của thành phố để cho người lao động vay mua xe, mua nhà… với lãi suất thấp.

Minh Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.940 24.250 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.918 24.218 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.880 24.180 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.900 24.220 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.905 24.455 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.908 24.210 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.810 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.970 24.260 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.250
67.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.250
67.050
Vàng SJC 5c
66.250
67.070
Vàng nhẫn 9999
53.250
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.050
53.850