VN-Index đón đầu sóng nâng hạng

07:46 | 10/01/2022

Bên cạnh cú hích từ gói kích thích kinh tế trị giá khoảng 350.000 tỷ đồng, triển vọng tăng trưởng của chứng khoán năm 2022 có thêm yếu tố nâng hạng từ thị trường biên (Frontier Markets) lên mới nổi (Emerging Markets).

Thực tế nhiều nhà phân tích kỳ vọng năm nay sẽ là thời điểm tốt để giới đầu tư vào Việt Nam vì tổ chức xếp hạng thị trường FTSE có khả năng sẽ nâng hạng Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging Markets) vào 2023. Từ đó mở ra cánh cửa cho phép một phần trong số hơn 3.000 tỷ USD các quỹ đầu tư mô phỏng chỉ số FTSE chảy vào.

Chuyên gia phân tích Hoàng Huy (chứng khoán Maybank Securities) cho biết VN-Index có khả năng sẽ tăng trưởng 28% vào năm 2022 và trở thành "ngôi sao sáng nhất trong khu vực" với các lĩnh vực hấp dẫn nhà đầu tư là ngân hàng, bán lẻ, năng lượng, bất động sản và môi giới. Thanh khoản thị trường hàng ngày có thể cũng sẽ được duy trì ở mức khoảng 1,4 tỷ USD nhờ dòng vốn ổn định của các nhà đầu tư bán lẻ trong nước và sự quay trở lại của các nhà đầu tư nước ngoài, trong bối cảnh bức tranh kinh tế phục hồi ngày một rõ ràng hơn.

vn index don dau song nang hang

Các động lực chính thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam trong năm nay là tiêu dùng trong nước đang phục hồi, trong khi Chính phủ sẽ tăng tốc đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư trực tiếp nước ngoài dự báo cũng sẽ khởi sắc khi dịch bệnh được kiểm soát, qua đó giúp xuất khẩu bứt phá mạnh hơn.

Nicolas Fonseca - Phó giám đốc danh mục đầu tư của VanEck đánh giá, Việt Nam được biết đến với dân số trẻ, sở hữu lĩnh vực sản xuất mạnh mẽ. Việt Nam còn hưởng lợi chính từ quá trình toàn cầu hóa gia tăng, với nhiều hiệp định thương mại tự do quốc tế với các khối thương mại toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế, tầng lớp trung lưu đang phát triển và thị trường chứng khoán tăng trưởng nhanh đã khiến Việt Nam trở thành điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Kinh tế phục hồi là một lực đỡ quan trọng cho thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, một chất xúc tác khác cho thị trường thêm kỳ vọng về khả năng được nâng hạng năm 2022 đến từ việc chính phủ thúc đẩy quá trình chuyển đổi này, vì cơ bản Việt Nam đã đáp ứng một số tiêu chí để trở thành một thị trường mới nổi, đồng thời thông qua đó thu hút vốn nước ngoài để duy trì tăng trưởng trong dài hạn.

Giá trị vốn hóa thị trường của các công ty niêm yết đã tăng nhanh chóng từ 12,5% GDP năm 2008 lên 69,6% GDP năm 2020. Tính đến ngày 28/12/2021, mức vốn hóa thị trường đạt 7,729 triệu tỷ đồng, tương đương 120% GDP.

Ông Andy Ho - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng bộ phận Đầu tư Tập đoàn VinaCapital cho rằng, nhà đầu tư nước ngoài có nhiều cơ hội trên thế giới. Tuy nhiên Việt Nam vẫn là cơ hội tốt khi môi trường lãi suất thấp và nhiều doanh nghiệp vẫn tăng trưởng tốt hoặc có còn tiềm năng tăng trưởng trong tương lai. “Hy vọng Việt Nam sẽ được nâng hạng từ thị trường MSCI FM (Frontier Markets) đi vào thị trường MSCI (Emerging Markets). Khi vào thị trường Emerging Markets thì sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng ít nhất 100 lần so với quy mô hiện nay”, ông Andy Ho nói.

Trong báo cáo chiến lược mới đây, Công ty Chứng khoán VNDirect đã đưa ra kịch bản lạc quan rằng FTSE Russell có thể đưa thị trường chứng khoán Việt Nam vào nhóm thị trường mới nổi thứ cấp trong kỳ đánh giá thị trường hàng năm vào tháng 9/2022. Trong kịch bản cơ sở, thị trường chứng khoán của Việt Nam có thể được đưa vào chỉ số thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell trong kỳ đánh giá thị trường hàng năm vào tháng 9/2023.

Với tổ chức MSCI thì cần thời gian dài hơn, nếu Việt Nam hoàn thành triển khai hệ thống giao dịch chứng khoán mới trong nửa đầu năm 2022, Việt Nam có thể được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi của MSCI trong kỳ đánh giá thị trường thường niên vào tháng 5/2023. Sau đó, Việt Nam có thể được thông báo nâng hạng lên thị trường mới nổi trong kỳ đánh giá thị trường thường niên của MSCI vào tháng 5/2024.

Nam Minh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.274 23.789 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.540 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.400
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.400
67.400
Vàng SJC 5c
66.400
67.420
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.600
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.200