16:00 | 02/02/2018

5 thách thức lớn cho tăng trưởng

Theo Ban Kinh tế Trung ương, có thể thấy kinh tế năm 2018 sẽ ít khả năng có được sự hưng phấn vì các kỷ lục như năm 2017. Để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao như trong năm 2017, nền kinh tế Việt Nam sẽ đối diện với 5 thách thức lớn.

Kinh tế tháng đầu năm: “Đầu xuôi đuôi lọt”
Cần kịch bản tăng trưởng rõ nét
Cơ cấu kinh tế dịch chuyển tích cực

Khó thiết lập kỷ lục mới

Thách thức đầu tiên chính là tăng trưởng đột biến khu vực chế biến, chế tạo - động lực chính cho tăng trưởng cao của năm 2017 sẽ khó có khả năng duy trì khi việc mở rộng sản xuất của Samsung đã được tận dụng trong năm 2017 và chưa có những dự án FDI mới về chế biến chế tạo quy mô lớn.

Tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong các lĩnh vực công tác ngay từ đầu năm

Bên cạnh đó, là dư địa hạn hẹp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Tốc độ xử lý các tập đoàn kinh tế, sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá DNNN vẫn chậm do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan; Những hạn chế, yếu kém tiềm ẩn đã tích tụ nhiều năm như bộ máy hành chính cồng kềnh, thủ tục hành chính còn rườm rà, không hợp lý, chi phí phi chính thức trong giao dịch của doanh nghiệp và người dân; Cuối cùng, một thách thức không thể không kể đến, là điều kiện thời tiết không thuận lợi có thể làm giảm đáng kể năng lực sản xuất nông nghiệp như đã từng diễn ra trong năm 2017.

Tuy nhiên, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, trong thách thức, lại thấy nổi lên điểm sáng và nhiều khả năng sẽ là động lực mới cho tăng trưởng. Đó là, dư địa tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản thông qua việc chuyển đổi cơ cấu sản phẩm còn rất lớn.

Từ thực tế của năm 2017 cho thấy, tăng trưởng nhóm ngành này vào khoảng 2,9%, trong đó dẫn đầu là ngành thủy sản (5,5%). Giá trị tăng thêm của nhóm ngành thủy sản cao đã giúp kéo cả nhóm ngành nông, lâm, thủy sản tăng trưởng cao hơn mức tăng bình quân nhóm ngành này giai đoạn 2005-2017 (2,9% so với 2,8%). Giá trị tăng thêm của thủy sản còn tăng cao hơn tăng trưởng về sản lượng thủy sản do xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội bộ ngành theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn.

Điều này cho thấy tính đúng đắn và hiệu quả từ việc chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, từ trồng lúa sang nuôi trồng, khai thác thủy sản, cũng như tăng diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả trong thời gian qua. Việc mở rộng thị trường xuất khẩu đối với thị trường nông thủy sản, đáng chú ý là sự tăng trưởng tích cực của xuất khẩu thủy sản sang thị trường Trung Quốc cho thấy hướng đi mới trong phát triển lĩnh vực này. Sự tham gia của các tập đoàn lớn trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao cũng đóng góp quan trọng trong gia tăng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp.

Sẽ kiểm điểm hàng tháng

Trước thực trạng như vậy, vừa qua Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa có yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, kiểm điểm hàng tháng, hàng quý về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2018.

Yêu cầu này nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2018, tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong các lĩnh vực công tác ngay từ đầu năm, không để xảy ra tình trạng “đầu năm thong thả, cuối năm vất vả”.

Năm 2018 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán NSNN năm 2018, đề ra phương châm hành động "Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả". Và muốn thực hiện được các kế hoạch này thành công, thì cả hệ thống phải cùng chuyển động, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”.

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước khẩn trương ban hành và triển khai thực hiện quyết liệt chương trình, kế hoạch hành động cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ.

Đồng thời, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4, 5, 6 (khóa XII) và các Nghị quyết của Quốc hội, phấn đấu đạt kết quả thực chất, toàn diện hơn, nhất là trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Thủ tướng cũng yêu cầu theo dõi sát, thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình và kết quả thực hiện chương trình, kế hoạch hành động đã đề ra; kiểm điểm tình hình thực hiện hàng tháng, hàng quý; chủ động xử lý theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải pháp nhằm xử lý kịp thời đối với những vấn đề phát sinh; thực hiện nghiêm chế độ tổng hợp, báo cáo theo quy định. Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường đôn đốc, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện.

Được biết, năm 2018 tần suất giám sát của Chính phủ sẽ tiếp tục được tăng cường. Tổ công tác của Thủ tướng sẽ đặc biệt tập trung kiểm tra việc thực thi Nghị quyết 01/NQ-CP, Nghị quyết số 19, Nghị quyết số 35/NQ-CP, Nghị quyết số 35a/NQ-CP, Nghị quyết số 60/NQ-CP... và kiểm tra chuyên đề đối với các nhiệm vụ có tính cấp bách, cần khẩn trương thực hiện. Tổ công tác cũng sẽ tiến hành kiểm tra việc thực hiện các giải pháp khác liên quan đến bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018 và cắt giảm điều kiện kinh doanh; kiểm tra công tác cổ phần hóa theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350