14:36 | 11/04/2018

ADB: Tăng trưởng 2018 có thể đạt 7,1% nếu không có cú sốc thương mại

Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á (ADO) 2018 vừa công bố ngày 11/4 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt 7,1% trong năm nay, trước khi giảm xuống còn 6,8% trong năm 2019.

Tăng chất cho tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế trở lại mức tiềm năng
Để thúc đẩy tăng trưởng bền vững

Động lực dẫn dắt tăng trưởng là gia tăng xuất khẩu, tiêu dùng nội địa và đầu tư (đặc biệt là FDI), dịch vụ cũng như sự hồi phục mạnh mẽ hơn của ngành nông nghiệp.

“Được hỗ trợ bởi năng lực quản lý kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế sẽ bứt phá trong năm 2018, nhờ đó Việt Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia tăng trưởng nhanh nhất của khu vực. Tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam sẽ được dẫn dắt bởi sự mở rộng mạnh mẽ lĩnh vực chế tạo và xuất khẩu, gia tăng tiêu dùng nội địa, dòng vốn đầu tư dồi dào của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng như cải thiện lĩnh vực nông nghiệp”, ông Eric Sidgwick, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam nhận định.

ADO cũng dự báo lạm phát sẽ ở mức 3,7% trong năm nay nhưng có thể lên mức 4,0% trong năm 2019 do sự gia tăng cầu nội địa và tăng giá cả hàng hóa toàn cầu.

Trong khi nhấn mạnh tiềm năng tăng trưởng vững chắc của Việt Nam, báo cáo cũng lưu ý một số nguy cơ lớn đối với triển vọng này, trong đó có việc gia tăng chủ nghĩa bảo hộ thương mại toàn cầu.

Hiện kim ngạch thương mại hàng năm của Việt Nam đã vượt mức 185% GDP, khiến Việt Nam trở thành nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại cao thứ hai ở Đông Nam Á, sau Singapore. Báo cáo lưu ý rằng, một sự cố nghiêm trọng trong thương mại giữa hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ có thể dẫn tới những tác động lan tỏa đối với tăng trưởng kinh tế.

Một trong những thách thức chính sách được đề cập sâu trong báo cáo lần này là sự thiếu hụt kỹ năng lao động. ADO khuyến nghị cần có nhiều nỗ lực hơn nữa để giải quyết vấn đề thiếu hụt kỹ năng của Việt Nam nhằm bảo đảm tăng trưởng được duy trì bền vững và công bằng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.160 23.260 26.112 26.845 30.423 30.910 201,51 209,46
BIDV 23.160 23.260 26.096 26.476 30.434 30.929 206,04 209,67
VietinBank 23.145 23.255 26.096 26.821 30.417 31.057 206,20 212,70
Agribank 23.155 23.250 26.085 26.460 30.440 30.907 205,96 209,71
Eximbank 23.150 23.250 26.095 26.444 30.540 30.949 206,86 209,63
ACB 23.170 23.250 26.119 26.456 30.634 30.952 206,97 209,64
Sacombank 23.106 23.268 26.111 26.516 30.580 30.985 206,00 210,57
Techcombank 23.140 23.260 25.871 26.596 30.239 31.101 205,03 210,49
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.925 26.533 30.540 31.143 205,30 210,16
DongA Bank 23.170 23.240 26.130 26.450 30.550 30.940 203,50 209,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.520
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.520
36.670
Vàng SJC 5c
36.520
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.490
36.890
Vàng nữ trang 9999
36.120
36.720