08:58 | 11/02/2019

Cá tra - kỳ vọng tăng trưởng mạnh

Không chỉ gia tăng kim ngạch, DN cá tra còn đầu tư nâng cao giá trị, chất lượng hàng xuất khẩu...

3 đối tượng thủy sản nuôi chủ lực

Mới đây, CTCP Nam Việt (Navico) đã triển khai dự án nuôi trồng thủy sản công nghệ cao Nam Việt Bình Phú (huyện Châu Phú, tỉnh An Giang), được coi là một trong những dự án nuôi cá tra lớn nhất cả nước từ trước đến nay. Dự án được phát triển trên diện tích 600 ha, và có tổng vốn đầu tư 4 nghìn tỷ đồng (171,9 triệu USD).

Trong năm nay, cá tra là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất

Trong đó, một phần diện tích của dự án sẽ được dành cho cá tra giống chất lượng cao, với công suất hàng năm là 360 triệu con cho thị trường. Ngoài ra, một diện tích khác sẽ sử dụng các ứng dụng công nghệ cao để nuôi cá tra thương mại và công suất hàng năm đạt 200.000 tấn cho chế biến xuất khẩu.

Đại diện Navico cho biết, một trong những mục tiêu của dự án là nhằm hoàn thành chuỗi giá trị bền vững. Công ty sẽ có nguồn cung riêng để đáp ứng nhu cầu chế biến xuất khẩu và cải thiện việc sản xuất cá giống. Thực tế, thời gian qua ngành cá tra trong nước đã bị thiếu hụt cá giống, dẫn đến thiếu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.

Trong 3 năm qua, việc thiếu nguyên liệu đầu vào đã làm tăng giá cá tra lên 66%. Trong năm 2019,  tổng giá trị xuất khẩu của công ty dự kiến sẽ tăng gấp đôi từ 150 triệu đến 300 triệu USD, bao gồm 150 triệu USD do dự án Bình Phú đóng góp khi đi vào hoạt động.

Navico hy vọng dự án mới này sẽ cho phép họ giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Navico cũng chú trọng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tập trung vào phân khúc sản phẩm chất lượng cao. Công ty tự tin vào khả năng cung cấp nhiều sản phẩm hơn sang nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhờ vào sự hoạt động trở lại của Nhà máy Thái Bình Dương.

Không riêng gì Navico, thời gian qua, nhiều “ông lớn” trong ngành cá tra cũng đã mạnh tay đầu tư nâng cao năng lực nuôi trồng và chế biến cá tra. Cụ thể, dự kiến trong năm nay, Công ty Vĩnh Hoàn sẽ phát triển thêm vùng nuôi mới tại Tân Hưng (Long An) với diện tích 220 ha, lượng cá nguyên liệu tự sản xuất ước tính tăng 40%. Bên cạnh đó, nhà máy Thanh Bình cũng đã vận hành với công suất 140 - 160 tấn nguyên liệu/ngày, tăng 30 tấn nguyên liệu/ngày so với cuối tháng 6/2018 và có kế hoạch nâng công suất thêm 100 tấn nguyên liệu/ngày trong năm 2019.

Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới, tập trung chủ yếu tại thị trường Mỹ và Trung Quốc. Trong năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt  con số ấn tượng 2,1 tỷ USD, tăng 22% so với năm trước.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký VASEP cho rằng, đạt được mức tăng trưởng cao như vậy là nhờ giá cá tra tăng và đẩy mạnh các sản phẩm giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, năm 2018, sản lượng cá tra không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường dẫn đến giá nguyên liệu leo dốc, kéo theo giá xuất khẩu tăng.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào sản phẩm cá tra chế biến sâu, đẩy giá và giá trị xuất khẩu cá tra tăng lên. Tại thị trường Trung Quốc, lượng sản phẩm cá tra chế biến sâu thâm nhập vào các siêu thị, nhà hàng, chuỗi thức ăn nhanh đang tăng mạnh. Dự báo, kim ngạch xuất khẩu cá tra có thể đạt 2,2 tỷ USD trong năm 2019.

Một số chuyên gia cho rằng, trong năm nay, cá tra là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất nhờ nhu cầu gia tăng tại Trung Quốc và các rào cản thương mại tại Mỹ - thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam được nới lỏng. Thêm vào đó, với việc căng thẳng thương mại Mỹ - Trung còn kéo dài, Việt Nam hoàn toàn có thể tăng thị phần xuất khẩu cá tra vào Mỹ, thay thế cho cá rô phi Trung Quốc hiện đang chiếm 40% tổng sản lượng cá nhập khẩu của Mỹ.

Ngoài ra, khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - châu Âu (EVFTA) được ký kết, thuế nhập khẩu cá tra vào Liên minh châu Âu (EU) sẽ giảm từ mức 5,5% hiện tại về 0% trong 3 năm với cá tra thô (mã HS 03) và từ mức 7% về 0% trong 7 năm với cá tra chế biến.... Tất cả sẽ tạo nên lợi thế cho ngành cá tra đạt kỳ vọng trong năm 2019.

Tuy nhiên,VASEP cũng đưa ra cảnh báo về tình trạng giá cá tra cao, dẫn đến nhiều e ngại về “làn sóng” đầu tư vào sản phẩm này một cách ồ ạt, phá vỡ quy hoạch, dẫn tới thừa lượng cung trong năm 2019. Song có thể tình trạng dư thừa sẽ không kéo dài như những năm trước, bởi thị trường có nhu cầu ổn định và khó tái diễn việc vay vốn để đầu tư, mở rộng nuôi trồng cá tra tràn lan.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.012 26.742 29.910 30.389 204,22 213,92
BIDV 23.150 23.250 25.984 26.712 29.914 30.394 204,75 209,80
VietinBank 23.147 23.257 25.988 26.723 29.877 30.517 204,83 211,33
Agribank 23.150 23.240 25.988 26.362 29.929 30.390 204,71 208,43
Eximbank 23.140 23.240 25.927 26.274 29.970 30.372 205,66 208,42
ACB 23.165 23.245 25.922 26.257 30.046 30.357 205,88 208,54
Sacombank 23.102 23.264 25.949 26.410 30.023 30.435 204,85 209,42
Techcombank 23.130 23.250 25.752 26.604 29.679 30.555 204,20 211,24
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.937 26.394 30.038 30.458 205,04 208,74
DongA Bank 23.170 23.240 25.920 26.230 29.950 30.330 202,40 208,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.200
36.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.200
36.350
Vàng SJC 5c
36.200
36.370
Vàng nhẫn 9999
36.170
36.570
Vàng nữ trang 9999
35.750
36.350