10:46 | 02/04/2018

Chỉ số PMI giảm mạnh xuống còn 51,6 điểm trong tháng 3/2018

Mặc dù tốc độ tăng trrưởng đã chậm lại so với tháng 2, song các điều kiện kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục cải thiện vào cuối quý 1/2018. Sản lượng và việc làm chỉ tăng khiêm tốn trong tháng, trong khi số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng mạnh nhờ xuất khẩu.

Tăng trưởng quý 1 cao nhất 10 năm, lạm phát trong tầm kiểm soát
GDP quý 1 tăng 7,38%, cao nhất trong 10 năm, nhờ công nghiệp - dịch vụ
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 quay đầu giảm 0,27%
(Nguồn: Nikkei/IHS Markit)

Nikkei – HIS Markit đã cho biết như vậy trong Báo cáo khảo sát chỉ số Nhà quản trị Mua hàng (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam. Theo đó, chỉ số PMI toàn phần lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đã giảm xuống 51,6 điểm trong tháng 3 so với 53,5 điểm trong tháng 2 mà từng là mức cao của 10 tháng.

“Kết quả chỉ số cho thấy sức khỏe của lĩnh vực sản xuất đã cải thiện ở mức vừa phải, và đây là mức cải thiện yếu nhất kể từ tháng 11 năm ngoái. Tuy nhiên, các điều kiện kinh doanh đã cải thiện hơn trong suốt 28 tháng qua”, Báo cáo nêu rõ.

Dữ liệu của tháng 3 cho thấy sản lượng ngành sản xuất đã tăng nhẹ, và là một trong những mức tăng chậm nhất trong thời kỳ tăng trưởng kéo dài bốn tháng hiện nay. Ở những nơi sản lượng tăng, nguyên nhân chủ yếu là do số lượng đơn đặt hàng mới tăng.

Báo cáo cho biết, tốc độ tăng số lượng đơn đặt hàng mới đã chậm lại, nhưng vẫn còn mạnh khi có các báo cáo cho thấy nhu cầu khách hàng đã cải thiện. Tổng số lượng đơn đặt hàng mới tăng nhờ số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài tăng nhanh hơn, và đây là mức tăng đáng kể nhất kể từ tháng 10 năm ngoái.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn đã giúp các công ty giải quyết được lượng công việc chưa thực hiện trong tháng 3. Tốc độ giảm đã gia tăng thành mức mạnh nhất trong ba năm.

Cũng theo Báo cáo, mặc dù giá cả đầu vào tiếp tục tăng mạnh trong tháng 3, tốc độ tăng giá đã chậm lại đáng kể so với tháng 2 và là tốc độ chậm nhất kể từ tháng 8/2017. Ở những nơi chi phí đầu vào tăng, nguyên nhân được cho là do giá cả thị trường tăng.

Giá cả đầu ra cũng tăng chậm lại vì có áp lực cạnh tranh. Giá bán hàng đã tăng trong suốt bảy tháng qua.

Điểm đáng chú ý là các nhà sản xuất rất lạc quan cho rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới, với mức độ lạc quan tăng trở lại sau khi đạt mức thấp của tám tháng trong tháng 2. Hơn 55% số người trả lời khảo sát dự báo sản lượng sẽ tăng.

Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam, Andrew Harker - Phó Giám đốc tại IHS Markit (công ty thu thập kết quả khảo sát) cho biết, mặc dù vẫn còn tăng trưởng trong tháng 3, lĩnh vực sản xuất của Việt Nam có các chỉ tiêu tăng trưởng yếu hơn, đặc biệt là về sản lượng. Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng mạnh nhờ lĩnh vực xuất khẩu, từ đó dẫn đến tình trạng lạc quan về triển vọng tăng sản lượng trong tương lai gần.

“Các công ty cũng bớt lo lắng về lạm phát hơn khi chi phí đầu vào tăng chậm hơn nhiều so với tháng 2. Do đó, áp lực lạm phát có vẻ như đã đạt đỉnh ở thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới”, vị chuyên gia này bình luận.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 27.728 28.059 31.543 32.049 208,20 212,17
BIDV 22.740 22.810 27.745 28.062 31.573 32.039 209,01 212,11
VietinBank 22.727 22.807 27.729 28.107 32.508 32.068 209,11 212,51
Agribank 22.735 22.810 27.728 28.057 31.586 32.020 208,88 212,15
Eximbank 22.720 22.810 27.730 28.091 31.673 32.085 209,53 212,26
ACB 22.740 22.810 27.755 28.102 31.776 32.094 209,70 212,33
Sacombank 22.729 22.821 28.781 28.135 31.754 32.111 209,58 212,62
Techcombank 22.725 22.810 27.638 28.348 31.948 32.789 208,69 214,15
LienVietPostBank 22.730 22.830 27.689 28.150 32.708 32.131 209,27 212,95
DongA Bank 22.740 22.810 27.770 28.090 31.690 32.070 208,40 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.720
36.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
Vàng SJC 5c
36.720
36.920
Vàng nhẫn 9999
36.700
37.100
Vàng nữ trang 9999
36.350
36.950