10:00 | 15/06/2017

Để giảm áp lực nợ công

Cùng với các giải pháp về khoán chi, tinh giản bộ máy, đẩy mạnh sự nghiệp công… thì nhiệm vụ tái cơ cấu lại ngân sách, đảm bảo an toàn nợ công sẽ đạt hiệu quả rõ nét hơn.

Tăng nội lực là vấn đề cấp bách
Đổi mới mô hình tăng trưởng: Tăng trưởng vừa phải nhưng chất lượng tốt
Đại biểu băn khoăn giao cơ quan nào quản lý nợ công?

Trong các phiên họp của Quốc hội vừa qua, vấn đề nợ công tiếp tục khiến nhiều đại biểu lo lắng, bởi nó đã gần chạm ngưỡng 65% GDP mà Quốc hội cho phép. Đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ) phân tích: Chính phủ luôn điều hành theo hướng đảm bảo nguồn thu để có đủ nguồn chi như dự toán được duyệt, nhưng chỉ cân đối được một cách tương đối. Nên khi GDP không đạt thì không khống chế được tỷ lệ nợ công, bội chi trên GDP. Thực tế bội chi năm nào cũng vượt ngưỡng và tỷ lệ nợ công luôn luôn vượt kỳ vọng đặt ra và hiện đã áp sát trần.

Đại biểu Nguyễn Văn Thể (Sóc Trăng) bổ sung, nợ công gần sát ngưỡng, hiện là 63,7% GDP; bội chi hiện là 5,64% GDP, trong khi mục tiêu đến năm 2020 thấp hơn 3,5% GDP. Tốc độ tăng dư nợ công 12%/năm, lớn hơn tốc độ tăng thu nhập 6,2%/năm hiện nay, nên nếu GDP thấp dẫn đến rủi ro vượt ngưỡng, vì nhu cầu huy động vốn trung hạn trong ngân sách rất lớn để trả nợ và đầu tư phát triển.

Trong những năm 2016 và 2017, vấn đề nợ công đã được kiểm soát

Trong khi đó theo đại biểu Trần Anh Tuấn (TP. Hồ Chí Minh), cùng với thâm hụt ngân sách và nợ công tăng lên, gánh nặng nợ công khiến áp lực trả nợ ngày càng tăng. Chia sẻ cùng sự quan tâm, đại biểu Trần Công Thuật (Quảng Bình) cho biết: “Cử tri đề nghị Chính phủ cần tập trung giải quyết công nợ, nợ công, nợ xấu, thắt chặt chi tiêu, kiểm soát đầu tư có hiệu quả, tích cực thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí…”.

Hóa giải những băn khoăn này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng, cùng với các giải pháp về khoán chi, tinh giản bộ máy, đẩy mạnh sự nghiệp công… thì nhiệm vụ tái cơ cấu lại ngân sách, đảm bảo an toàn nợ công sẽ đạt hiệu quả rõ nét hơn.

Về các đối sách cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, tỷ lệ nợ công năm 2010 ở mức 50% GDP, năm 2015 ở mức 62,5% GDP. Nếu xét về quy mô thì nợ công năm 2015 gấp 2,3 lần của năm 2010 và tăng bình quân 18,4%/năm. Trước tình hình như vậy, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Bộ Tài chính đã báo cáo với Chính phủ, báo cáo với Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 07 về tái cơ cấu ngân sách Nhà nước, đảm bảo an toàn nợ công. Theo đó, trong những năm 2016 và 2017, vấn đề nợ công đã được kiểm soát.

Cũng theo ông Dũng, điểm rất tiến bộ trong quá trình hành động này là chúng ta thông qua việc phát hành kỳ hạn dài trái phiếu để kéo dài thời gian trả nợ và làm giảm áp lực trả nợ công. Nếu năm 2013, chúng ta phát hành kỳ hạn trái phiếu Chính phủ bình quân khoảng 3 năm thì đến năm 2016 lên đến trên 8 năm, 5 tháng đầu năm nay là 15,6 năm. Cùng với đó là chúng ta đã kéo danh mục kỳ hạn trái phiếu Chính phủ bình quân từ 2,98 năm của năm 2013 đến nay đã lên trên 6 năm.

“Chúng tôi cho đây là một thắng lợi rất tốt và chúng ta đã đẩy được đỉnh nợ, nếu như năm 2014 lo đỉnh nợ năm 2016, 2017 thì bây giờ đã đẩy được đỉnh nợ đi qua”, ông Dũng chia sẻ.

Thêm nữa, toàn bộ các khoản vay của giai đoạn 2011-2013 với lãi suất rất cao, 11-13%/năm, thì vừa qua chúng ta đã phát hành trả được hết với lãi suất khoản vay mới chỉ trên dưới 6%/năm, với kỳ hạn như năm 2016 phát hành 91% là 5 năm trở lên. Năm 2017, đến thời điểm này, đã phát hành được 102.000 tỷ  đồng với kỳ hạn trên 5 năm trở lên.

“Chúng tôi cho rằng quá trình tái cơ cấu nợ công trong thời gian vừa qua rất tốt”, ông Dũng tiếp tục khẳng định và cho biết Bộ Tài chính đang triển khai quyết liệt các giải pháp về cơ cấu lại thu ngân sách, đồng thời với giải pháp rất quan trọng và rất hiệu quả là tập trung vào siết chặt chi tiêu, đặc biệt là chi tiêu thường xuyên. Một ví dụ điển hình là tới đây, Bộ Tài chính xây dựng dự thảo trình Chính phủ ban hành quyết định về chế độ xe công.

Từ cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính kỳ vọng việc đảm bảo an toàn nợ công sẽ có những kết quả rõ nét hơn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
7,00
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,90
5,60
5,80
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.690 22.760 25.222 25.549 28.605 29.064 201,24 205,09
BIDV 22.690 22.760 25.204 25.499 28.573 29.003 202,12 205,13
VietinBank 22.685 22.765 25.181 25.522 28.561 29.069 201,85 205,34
Agribank 22.680 22.760 25.123 25.448 28.516 28.959 201,70 204,93
Eximbank 22.660 22.760 25.227 25.556 28.659 29.032 202,63 205,27
ACB 22.690 22.760 25.167 25.630 28.661 29.116 202,15 205,86
Sacombank 22.686 22.769 25.280 25.647 28.739 29.104 202,65 205,79
Techcombank 22.680 22.770 25.036 25.632 28.398 29.084 201,37 206,16
LienVietPostBank 22.670 22.760 24.930 25.467 28.672 28.964 200,75 205,13
DongA Bank 22.690 22.760 25.220 25.600 28.650 29.090 202,10 205,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.270
36.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.270
36.470
Vàng SJC 5c
36.270
36.490
Vàng nhẫn 9999
34.590
34.990
Vàng nữ trang 9999
34.290
34.990