07:30 | 03/05/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/5

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 111 tỷ đồng ra thị trường. VN-Index giảm 1,14 điểm (-0,12%) xuống còn 978,50 điểm; HNX-Index giảm 0,46 điểm (-0,43%) xuống 107 điểm; UPCOM-Index giảm 0,33 điểm (-0,59%) xuống 55,90 điểm. Thanh khoản thị trường vẫn ở mức thấp. Khối ngoại mua ròng nhẹ gần 40 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 22-26/4

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 2/5, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.033 VND/USD, tiếp tục tăng 5 đồng so với phiên trước kỳ nghỉ lễ. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.674 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.258 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên 26/4. Tỷ giá tự do giảm 10 đồng ở chiều mua vào và 40 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.290 - 23.310 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 2/5, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng mạnh 0,21 - 0,87 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ qua đêm đến 1 tháng so với phiên trước kỳ nghỉ lễ; giao dịch tại: qua đêm 3,37%; 1 tuần 3,46%; 2 tuần 3,49% và 1 tháng 3,69%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở kỳ hạn qua đêm trong khi tăng 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tuần và giảm 0,01 - 0,02 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng; giao dịch với mức: qua đêm 2,50%; 1 tuần 2,61%; 2 tuần 2,68%, 1 tháng 2,82%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở các kỳ hạn 3 năm và 10 năm, trong khi giảm ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: 3 năm 3,55%; 5 năm 3,85%; 7 năm 4,20%; 10 năm 4,74%; 15 năm 5,07%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên đầu tiên sau kỳ nghỉ lễ, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, các tổ chức tín dụng chỉ hấp thụ được 111 tỷ đồng. Số dư trên kênh cầm cố tăng lên mức 417 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu, số dư trên kênh tín phiếu hiện ở mức 49.999 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 111 tỷ đồng ra thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong phiên hôm qua.

Thị trường chứng khoán phiên 2/5, trên cả 3 sàn, các cổ phiếu phần lớn dao động quanh mức tham chiếu, tuy nhiên lượng mã giảm chiếm đa số. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 1,14 điểm (-0,12%) xuống còn 978,50 điểm; HNX-Index giảm 0,46 điểm (-0,43%) xuống 107 điểm; UPCOM-Index giảm 0,33 điểm (-0,59%) xuống 55,90 điểm.

Thanh khoản thị trường vẫn ở mức thấp dưới trung bình với tổng giá trị giao dịch đạt gần 3.900 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng nhẹ gần 40 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo liên bộ Công Thương - Tài chính, từ ngày 2/5, xăng E5 RON92 tăng 985 đồng/lít, xăng RON95-III tăng 956 đồng/lít, dầu diesel 0,05S tăng 311 đồng/lít; dầu hỏa tăng 363 đồng/lít và dầu mazút 3.5S tăng 385 đồng/kg.

Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức: Xăng E5RON92: 20.688 đồng/lít; Xăng RON95-III: 22.191 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S: 17.695 đồng/lít; Dầu hỏa: 16.625 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: 16.002 đồng/kg.

Tin quốc tế

Tại phiên họp chính sách kết thúc ngày 1/5, các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed đã quyết định giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 2,25% - 2,5%. Fed cho rằng lạm phát và lạm phát cơ bản đều đang giảm và ở dưới mức 2%, tuy nhiên tăng trưởng kinh tế vẫn vững chắc và tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp nhất trong 50 năm.

Liên quan đến thông tin kinh tế, giá trị đặt hàng nhà máy Mỹ trong tháng 3 tăng 1,9% so với tháng trước sau khi giảm 0,3% ở tháng trước đó, vượt xa kỳ vọng tăng 1,0% của các chuyên gia.

Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu của Mỹ tuần kết thúc ngày 26/4 ở mức 230.000 đơn, bằng với số đơn của tuần trước đó và lớn hơn mức 220.000 theo dự báo.

Ngân hàng Trung ương Anh BoE họp ngày hôm qua đã giữ mức lãi suất chính sách 0,75% hiện tại, đồng thời kỳ vọng GDP Anh tăng 0,5% trong quý I và giảm tốc còn 0,2% trong quý II.

Chỉ số PMI lĩnh vực xây dựng của nước Anh tháng 4 ở mức 50,5 điểm, tăng so với mức 49,7 điểm của tháng 3, đồng thời cao hơn mức 50,5 điểm dự báo.

Doanh số bán lẻ của Đức giảm 0,2% so với tháng trước trong tháng 3 sau khi tăng nhẹ 0,5% trong tháng trước đó, tích cực hơn so với mức giảm 0,5% theo dự báo. So với cùng kỳ năm trước, doanh số bán lẻ của Đức giảm tới 2,1% trong tháng 3.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850