17:23 | 19/09/2019

Không ngừng hành động vì một Việt Nam thịnh vượng

“Khó khăn không làm chúng tôi chùn bước”, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định tại phiên toàn thể với chủ đề “Hành động vì một Việt Nam thịnh vượng” của Diễn đàn cải cách và phát triển Việt Nam - VRDF 2019 chiều 19/9/2019.

Cần cải cách táo bạo để nắm bắt các cơ hội tương lai
Khai mạc VRDF 2019: Nhiều gợi ý cho "giấc mơ" thịnh vượng
Trước thềm VRDF: Quyết định đúng sẽ đạt được mục tiêu và khát vọng
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Diễn đàn

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp, có mức thu nhập trung bình cao; có thể chế kinh tế đầy đủ theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có năng suất lao động và sức cạnh tranh cao, đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững.

Nhưng hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng là một quá trình vận động không ngừng với nhiều cơ hội và thách thức.

“Làm gì để định hình vận mệnh của mình” là câu hỏi của các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi, bà Pinelopi Koụianou Goldberg - Chuyên gia kinh tế trưởng Nhóm Ngân hàng Thế giới nói tại Diễn đàn VRDF.

Các kịch bản tăng trưởng thu nhập cho Việt Nam vào năm 2035. (Nguồn: Việt Nam 2035 – Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ)

Bà Pinelopi Koụianou Goldberg gợi ý: Việt Nam nên tiếp tục đầu tư cao hơn vào nguồn nhân lực và tham gia sâu hơn, ở phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Tham gia vào GVC các doanh nghiệp có năng suất cao hơn, việc làm tốt hơn và năng suất cao giúp giảm tỷ lệ đói nghèo. Từ 1995 đến nay, tốc độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam tăng rất nhanh nhưng chưa lên đến chuỗi có giá trị gia tăng cao. 

Với chủ đề “Chuyển dịch Việt Nam lên tầm phát triển mới – lộ trình và kinh nghiệm quốc tế”, ông Jan Rielaendẻ - Đặc phái viên của Giám đốc Trung tâm phát triển, Trưởng bộ phận đánh giá quốc gia đa chiều của OECD đã trình bày nghiên cứu phân tích về Việt Nam. Nghiên cứu này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phát triển ở ba tốc độ năng suất: Cao nhất là khu vực FDI, tiếp đến khu vực DNNN, khối doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình và khu vực nông nghiệp… Vì vậy cần nâng cao năng suất để kéo gần khoảng cách khối doanh nghiệp tư nhân, khu vực phi chính thức với DNNN và FDI.

Đồng thời là liên kết tốt hơn, hội nhập tốt hơn giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài… Bên cạnh đó là cải thiện thể chế, trong đó cải thiện tính minh bạch và tính dự đoán được của chính sách và thực thi pháp luật. Quản lý tốt hơn DNNN…

Lắng nghe rất kỹ các diễn giả, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu: “ Tôi hoan nghênh và trân trọng các ý kiến của các vị đại biểu. Tôi hiểu rằng các vị là các chuyên gia, các bậc thầy về kinh tế”. Thủ tướng Thủ tướng khẳng định Việt Nam không ngừng mơ ước… Tuy nhiên vẫn còn nhiều ước mơ đang dang dở và vẫn còn những day dứt. Ước mơ, khát vọng hướng về phía trước dù rất tốt đẹp nhưng vẫn còn nhiều khó khăn thách thức phải vượt qua.

“Nhưng khó khăn không làm chúng tôi chùn bước”, Thủ tướng phát biểu và khẳng định Việt Nam không ngừng mơ ước và sẽ nỗ lực hành động vì ước mơ biến ước mơ thành hiện thực để trở thành quốc gia hùng cường đạt khát vọng trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Thủ tướng nhắc lại: Trong suốt chặng đường lịch sử kể từ đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, mọi người dân Việt Nam đều mong muốn cống hiến hết sức mình, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc và đã đạt được những kết quả tốt.

Các kịch bản tăng trưởng cho Việt Nam đến năm 2035

Nếu GDP bình quân/người tăng ở mức 6%/năm thì đến 2035 sẽ tiến tới mốc 18.000 USD (tính theo sức mua tương đương bằng USD năm 2011).

Nếu GDP bình quân/người tăng hơn 7%/năm, GDP/người sẽ đạt xấp xỉ 22.200 USD, tương đương với mức thu nhập của Hàn Quốc năm 2002 hoặc của Malaysia năm 2013.

Nếu GDP/người tăng hơn 7% đến năm 2035 Việt Nam sẽ đuổi kịp Indonesia và có thể vượt Philippines nếu hai nước này tiếp tục duy trì tăng trưởng như hiện nay

Nguồn: Báo cáo Việt Nam 2035

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670