14:58 | 09/11/2018

Quý IV, sản xuất công nghiệp nhiều khả năng tăng chậm lại

Từ số liệu vĩ mô tháng 10 có thể thấy, ngành công nghiệp sẽ giảm tốc trong quý IV nhưng được bù đắp một phần nhờ dịch vụ. Đây là nhận định được đưa ra trong báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam tháng 10 do SSI Retail Research vừa công bố.

Tăng trưởng toàn ngành công nghiệp tháng 10 giảm xuống +7,7%, mức thấp nhất 5 tháng với cấu thành là công nghiệp chế biến chế tạo tăng +10,1%, cũng là mức thấp nhất 5 tháng và khai khoáng giảm -9,5%.

Tốc độ tăng trưởng thấp của tháng 10 có thể thấy từ trước bởi xu hướng giảm dần đều đã diễn ra trong nhiều tháng qua cộng hưởng với nền cao đột biến của cùng kỳ 2017. Tháng 10/2018, giá trị xuất khẩu điện thoại chỉ là 4 tỷ USD, kéo chỉ số công nghiệp sản xuất ngành điện tử giảm -1,5% so với cùng kỳ.

Ngành dược sau nhiều tháng tăng trưởng cao đã bất ngờ chuyển sang tăng trưởng âm -0,2% . Điểm tích cực là dù sản xuất dược trong nước có chậm lại, nhập khẩu dược phẩm tháng 10 cũng giảm -14,9%. Điều này cho thấy chính sách bảo hộ ngành dược vẫn phát huy tác dụng và có thể ngành dược sẽ lấy lại đà tăng trưởng trong các tháng tiếp theo.

Ngành sản xuất xe có động cơ giảm tốc từ +35% trong tháng 9 xuống chỉ còn +14,2% trong tháng 10 dù giá trị nhập khẩu ô tô trong tháng 10 thay đổi không đáng kể. Trong 3 tháng từ tháng 8 đến tháng 10, nhập khẩu ô tô đều trên 200 triệu USD/tháng trong khi trung bình 7 tháng đầu năm là 66 triệu USD/tháng.

Nghị định 116 tạo ra một số hàng rào kỹ thuật với việc nhập khẩu xe nguyên chiếc nên giúp giảm bớt lượng xe nhập khẩu vào đầu năm. Theo thời gian, các nhà nhập khẩu đã khắc phục/đáp ứng được các quy định mới và vì vậy, xe nhập khẩu tăng tốc. Diễn biến này rất có thể sẽ có ảnh hưởng đến ngành sản xuất ô tô trong nước trong những tháng tiếp theo. 

Hai ngành vốn có tăng trưởng cao là dệt may và sắt thép tiếp tục duy trì phong độ ổn định. Tăng trưởng ngành dệt tháng 10 đạt +15,7%, cao nhất từ đầu năm, may đạt +18,1% và ngành sản xuất kim loại đạt +39,2%, cao nhất 18 tháng.

Thị trường xuất khẩu thuận lợi là động lực chính thúc đẩy ngành dệt may với tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may tháng 10 lên tới +21,6%. Ngược lại, tín hiệu xuất khẩu lại yếu đi với mặt hàng kim loại khi giá trị xuất khẩu sắt thép tháng 10 chỉ tăng +5,1%, thấp nhất 30 tháng. 

Một ngành mới nổi lên và cần lưu ý là sản xuất nội thất (giường tủ bàn ghế). Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung rất có thể đã có tác động tích cực đến ngành sản xuất nội thất của Việt Nam khi tăng trưởng của ngành này từ tháng 8 đã đạt trên +20% trong khi trung bình 7 tháng trước đó là +14%.

Xuất khẩu nội thất từ gỗ trong tháng 10 cũng đạt tăng trưởng khả quan, +18,5%. Các công ty sản xuất nội thất tại Trung Quốc dưới áp lực của chiến tranh thương mại đã phải tính đến phương án chuyển sản xuất ra nước ngoài và Việt Nam là một điểm đến.

Điều này không chỉ tích cực với ngành sản xuất nội thất mà còn với nhiều ngành khác như khu công nghiệp, logistics… Quan trọng hơn, nếu có chiến lược thu hút FDI đúng đắn, Việt Nam có thể tận dụng thêm cơ hội từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.

Chỉ số bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tháng 10 tăng lên +9,31% (đã loại trừ lạm phát), cao nhất 10 tháng trong đó đóng góp chính là tăng trưởng của bán lẻ hàng hóa. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10 đạt 286 nghìn tỷ, tăng +14,2% so với cùng kỳ, mức cao nhất nhiều năm (số liệu chưa loại trừ lạm phát). Tính chung 10 tháng, doanh số bán lẻ tăng +12,2%, trong đó bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng +13%, may mặc tăng +12,6%. 

Ngược với bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú ăn uống lại tăng thấp, +8,4%, thấp nhất 19 tháng do du lịch tăng chậm. Lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam trong tháng 10 là 371 nghìn lượt, mức thấp nhất 11 tháng và tính từ đầu năm, khách Trung Quốc đạt 4,18 triệu lượt, tăng +28,8% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng +45,6%). 

Vận tải hành khách và hàng hóa cùng thể hiện xu hướng cải thiện. Tăng trưởng luân chuyển hành khách 10 tháng đạt +12,8%, và luân chuyển hàng hóa là +14,1%. Trong luân chuyển hành khách, luân chuyển bằng đường hàng không tăng +7,3%, gấp đôi so với trung bình 2 tháng trước. Với hàng hóa, tăng trưởng luân chuyển đường biển tăng +12,2%, mức cao nhất nhiều năm. 

Vận tải đường biển chiếm tỷ trọng 51% trong tổng luân chuyển hàng hóa nên sự cải thiện của lĩnh vực này có ảnh hưởng lớn đến bức tranh chung của ngành vận tải. Bên cạnh đó, vận tải sôi động còn là một tín hiệu tích cực cho thấy các hoạt động kinh tế, giao thương hàng hóa vẫn đang ở trạng thái tốt dù xét về giá trị, kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng 2018 tăng thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ, +13,7% so với +21,8%.

Tựu chung lại từ số liệu vĩ mô tháng 10 có thể thấy, công nghiệp sẽ giảm tốc trong quý IV và được bù đắp một phần nhờ dịch vụ. Trong công nghiệp, tăng trưởng của các ngành sẽ phân hóa. Điện tử tăng thấp, thậm chí có thể giảm nhưng nhiều ngành công nghiệp khác lại có tăng trưởng cao và tạo được sức lan tỏa nhất định.

“Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã có những biểu hiện ban đầu và trong những tác động tích cực, dòng vốn FDI là một vấn đề cần lưu tâm. Xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc do lo ngại chiến tranh thương mại đang mang đến cơ hội cho Việt Nam. Với câu chuyện CPTPP, Việt Nam lại có thêm lợi thế để tạo sự khác biệt với các nước cùng trình độ phát triển”, báo cáo đánh giá. 

Tận dụng tốt dòng vốn rút khỏi Trung Quốc sẽ thúc đẩy kinh tế Việt Nam hồi phục nhanh hơn bởi doanh nghiệp FDI luôn có lợi thế công nghệ và thị trường, những lợi thế mà doanh nghiệp trong nước cần nhiều thời gian để xây dựng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.580
36.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.580
36.720
Vàng SJC 5c
36.580
36.740
Vàng nhẫn 9999
36.570
36.970
Vàng nữ trang 9999
36.170
36.770