18:11 | 06/06/2018

UBGSTCQG: Cẩn trọng lạm phát vì biến động giá dầu

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nhận định, lạm phát 5 tháng đầu năm nhìn chung vẫn trong tầm kiểm soát song rủi ro lớn nhất đối với vấn đề kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm 2018 là giá dầu thế giới đang có xu hướng tăng cao vượt dự kiến.

Lạm phát cơ bản kiểm soát tốt cho thấy sự hiệu quả CSTT
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 tăng 0,55%, cao nhất trong 6 năm
Xây dựng kế hoạch tăng trưởng kinh tế 6,8% trong năm 2019

Nhìn tổng thể CPI sẽ cao hơn so với năm 2017

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) vừa công bố Báo cáo tình hình kinh tế - tài chính tháng 5/2018, trong đó nổi lên một số vấn đề đáng chú ý.

Theo đó, trong tháng 5, hoạt động xuất khẩu duy trì được mức tăng khá trong khi tốc độ tăng nhập khẩu giảm mạnh và đây là yếu tố tạo thặng dư thương mại cao nhất trong vòng 5 năm qua (3,4 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2018).  Đáng lưu ý là khu vực kinh tế trong nước đang có những biểu hiện tốt khi có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu vượt khu vực FDI (5 tháng xuất khẩu tăng 17,8% so với 15%; nhập khẩu tăng 10,4% so với 6,7%).

Về lạm phát, CPI tháng 5 tăng cao đột biến 0,55% so với tháng trước (mức cao nhất trong 6 năm qua) và tăng 3,86% so với cùng kỳ. Như vậy CPI bình quân 5 tháng đầu năm tăng 3,01% so với cùng kỳ trong khi lạm phát cơ bản vẫn duy trì ở mức ổn định, tăng 1,37% so với cùng kỳ.

UBGSTCQG nhận định, lạm phát 5 tháng đầu năm nhìn chung vẫn trong tầm kiểm soát song rủi ro lớn nhất đối với vấn đề kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm 2018 là giá dầu thế giới đang có xu hướng tăng cao vượt dự kiến, do đó tác động của việc tăng giá xăng dầu trong năm 2018 vào CPI tổng thể sẽ cao hơn so với năm 2017.

Cụ thể, theo tính toán của UBGSTCQG, nếu giá dầu bình quân năm 2018 tăng 17-20% so với năm 2017 như dự báo từ đầu năm (đạt mức 60-62 USD/thùng) sẽ làm cho giá nhóm giao thông tăng khoảng 5-7% so với năm trước và lạm phát năm 2018 dự báo sẽ tăng ở mức 3,5-3,8 % so với cùng kỳ.

Trường hợp giá dầu bình quân tăng khoảng 24-25% so với cùng kỳ lên mức 65 USD/thùng theo như dự báo mới nhất của WB sẽ làm cho giá nhóm giao thông tăng khoảng 8-10% so với năm trước, lạm phát năm 2018 dự báo tăng 4-4,1% so với cùng kỳ.

Thị trường chứng khoán có thể về vùng 900-950 điểm

Báo cáo nhận định, thị trường cổ phiếu điều chỉnh giảm và có thể về vùng 900-950 điểm. Đến ngày 24/5/2018, VN-Index đã giảm 18,6% từ mức đỉnh 1.211 điểm, trong đó cổ phiếu ngành Ngân hàng giảm mạnh từ 22% đến 36%. Nguyên nhân chính do mặt bằng giá cổ phiếu cao hơn phần lớn các thị trường trên thế giới và là mức cao nhất từ tháng 10/2009 đến nay.

Hơn nữa, mặt bằng giá cổ phiếu hiện nay (P/E – thị giá cổ phiếu trên thu nhập mỗi cổ phiếu là 18,6 lần) vẫn cao hơn khoảng 10-15% so với mặt bằng giá phù hợp với nhà đầu tư trung dài hạn (P/E khoảng 16 lần). 

Về thị trường trái phiếu, phát hành trái phiếu Chính phủ có dấu hiệu chậm lại do chậm giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Lũy kế 5 tháng đầu năm, huy động vốn trái phiếu Chính phủ đạt 57 nghìn 641 tỷ đồng, chỉ tương đương 28,8% kế hoạch năm 2018. Lãi suất trúng thầu tăng nhẹ, mức tăng từ 0,03 đến 0,16 điểm % so với cuối tháng 4. 

Về dòng vốn FII, khối ngoại tái cơ cấu danh mục đầu tư. Lũy kế từ đầu năm 2018, khối ngoại mua ròng 1,78 tỷ USD trên thị trường chứng khoán chính thức (1,67 tỷ USD cổ phiếu, 112 triệu USD trái phiếu), trong đó có những giao dịch lớn như cổ phiếu Vinhomes (1,25 tỷ USD) và Novaland (138 triệu USD).

Tuy nhiên, vẫn cần tăng cường giám sát dòng vốn ngoại vào thị trường chứng khoán, cần tính đến khả năng vốn ngoại vào thị trường Việt Nam giảm hoặc có thể đảo chiều trong 2 năm tới, UBGSTCQG cảnh báo.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.300 26.589 26.907 29.484 29.956 207,30 213,80
BIDV 23.230 23.310 26.552 26.872 29.474 29.923 209,44 212,65
VietinBank 23.200 23.290 26.523 26.901 29.426 29.986 208,98 212,38
Agribank 23.235 23.315 26.618 26.948 29.528 29.959 209,54 213,57
Eximbank 23.200 23.300 26.564 26.920 29.582 29.978 209,89 212,70
ACB 23.230 23.310 26.614 26.957 29.700 30.007 209,84 212,54
Sacombank 23.221 23.314 26.635 26.998 29.671 30.038 210,06 213,14
Techcombank 23.210 23.310 26.359 27.071 29.284 30.100 208,75 214,17
LienVietPostBank 23.210 23.310 25.560 27.022 29.624 30.041 209,86 213,58
DongA Bank 23.230 23.310 26.620 26.940 29.610 29.980 208,60 212,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.600
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.600
36.780
Vàng SJC 5c
36.600
36.800
Vàng nhẫn 9999
34.350
34.750
Vàng nữ trang 9999
33.900
34.700