09:30 | 03/04/2018

UBGSTCQG: Tăng trưởng GDP 2018 có thể đạt 6,9% - 7,1%

Theo Báo cáo tình hình kinh tế - tài chính Quý I và dự báo cả năm 2018 của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), tăng trưởng GDP năm 2018 có thể đạt 6,9% - 7,1% nếu tăng trưởng các quý tiếp theo tiếp tục có những diễn biến thuận lợi.

Phấn đấu tăng trưởng GDP đạt tối thiểu là 6,7%
Tăng trưởng quý 1 cao nhất 10 năm, lạm phát trong tầm kiểm soát

Cụ thể, tăng trưởng kinh tế quý 1/2018 có nhiều thuận lợi dựa vào sự cải thiện về tổng cung của nền kinh tế. Phân rã tăng trưởng cũng cho thấy điều này khi thành phần xu thế của tăng trưởng (thể hiện năng lực cung của nền kinh tế) đang trong xu hướng tăng nhờ những tác động tích cực có độ trễ của năm 2017.

Trong các quý còn lại của năm 2018, nếu tổng cầu tiếp tục có những diễn biến tích cực như cầu tiêu dùng duy trì được đà tăng như Quý I; đầu tư tư nhân tiếp tục tăng cao trong bối cảnh niềm tin vào tăng trưởng kinh tế khả quan; tích cực đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu Quý II/2018 để hỗ trợ tăng trưởng… thì tăng trưởng của nền kinh tế có thể vượt kế hoạch 6,5 - 6,7% đề ra cho năm 2018.

Trong khi đó về lạm phát, UBGSTCQG dự báo, nếu không có yếu tố đột biến, lạm phát năm nay sẽ tăng ở mức 3,5% - 3,8% so với cùng kỳ. Trong đó, giá điện tăng 6,08% từ cuối năm 2017 góp phần làm CPI năm 2018 tăng khoảng 0,1 điểm %. Giá thực phẩm đã tăng 1,2% so với đầu năm, đóng góp làm CPI tăng 0,27 điểm%. Nếu giá thực phẩm tăng tương đương với mức tăng của năm 2015 (1,5%) và 2016 (3,5%) sẽ làm lạm phát tăng 0,4 - 0,7 điểm %.

Yếu tố giá hàng hóa phi năng lượng sẽ không gây nhiều áp lực lên lạm phát do tốc độ tăng giá hàng hóa thế giới năm 2018 được dự báo sẽ thấp hơn năm 2017. Tuy nhiên, nếu giá dầu thô tăng khoảng 15% - 17% sẽ góp phần làm cho giá giao thông tăng khoảng 5% - 7% so với năm trước, đóng góp làm CPI tổng thể tăng khoảng 0,5 - 0,7 điểm %.

UBGSTCQG cho rằng, như vậy dư địa lạm phát còn lại để điều chỉnh giá dịch vụ công trong năm 2018 là 1 – 1,2 điểm %. Nếu năm 2018, giá điện không tăng, giá dịch vụ y tế và giá giáo dục chỉ tăng 40% - 60% so với mức tăng của hai nhóm ngành này trong năm 2017 thì lạm phát sẽ ở mức 3,5% - 3,8% (so cùng kỳ).

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.015 23.085 26.644 26.963 29.648 30.123 200,83 207,14
BIDV 23.015 23.085 26.768 26.999 29.892 30.155 204,42 206,19
VietinBank 22.997 23.077 26.601 26.979 29.624 30.184 202,63 206,03
Agribank 23.010 23.090 26.614 26.947 29.666 30.098 202,93 206,15
Eximbank 23.000 23.090 26.802 27.150 30.050 30.440 205,33 208,00
ACB 23.020 23.100 26.747 27.249 30.062 30.549 204,83 208,67
Sacombank 23.015 23.110 26.838 27.248 30.098 30.508 205,39 208,59
Techcombank 22.995 23.095 26.566 27.308 29.704 30.571 203,91 209,32
LienVietPostBank 23.000 23.100 26.605 27.058 29.831 30.234 202,89 206,49
DongA Bank 23.040 23.090 26.790 27.210 30.010 30.500 203,60 208,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.740
36.940
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.740
36.920
Vàng SJC 5c
36.740
36.940
Vàng nhẫn 9999
35.020
35.420
Vàng nữ trang 9999
34.670
35.370