Cơ khí muốn viết lại “giấc mơ” trụ cột phát triển

09:38 | 15/11/2019

Ngành cơ khí nội địa lại không có được nhiều thị phần trong thị trường này vì DN luôn phải tự bơi trong cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, phải theo cơ chế xin - cho, ít đơn hàng đầu tư công và luôn bị DN nước ngoài cạnh tranh quyết liệt...

Chính sách cho ngành cơ khí: Phải “đi tắt đón đầu” để phát huy lợi thế người đi sau
Chỉ rõ những khoảng trống cho ngành Cơ khí phát triển

Vừa qua trong phiên chất vấn trên nghị trường Quốc hội, đã có một số ý kiến lo ngại về sự phát triển èo uột của ngành cơ khí trong nước. Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh thừa nhận, Việt Nam chưa đạt mục tiêu đưa trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại là do ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp cơ khí nói riêng có xuất phát điểm quá thấp so với mặt bằng chung các nước.

Hơn nữa Việt Nam đang phải đối mặt với việc hội nhập sâu rộng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhưng lại đi chậm hơn các nước trong khu vực từ 2 - 3 thế hệ về công nghệ. Hiện nay, chất lượng của các loại máy móc trong nước chế tạo vẫn rất hạn chế và mới đáp ứng 30% nhu cầu thị trường, trong khi áp lực cạnh tranh của máy móc đến từ các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc là rất lớn.

Mặc dù không phủ nhận sự đuối sức của ngành cơ khí trong nước, song ông Đào Phan Long - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) tiếc nuối cho biết, ngành cơ khí đã làm ra được một số loại động cơ và máy móc trong nhiều ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, song lại không có cơ hội để ứng dụng và nhân rộng.

Chẳng hạn trong lĩnh vực nông nghiệp, các DN nội địa đã sản xuất được máy canh tác cỡ nhỏ, máy chế biến gạo, chế biến thực phẩm, rau quả và bảo quản… có sức cạnh tranh để thay nhập khẩu và xuất khẩu. Nếu thời gian tới có chính sách và thực hiện quyết liệt việc kiểm soát nhập khẩu máy, phương tiện đã qua sử dụng như các quốc gia khác, chắc chắn sẽ có thị trường để phát triển tốt các loại sản phẩm này.

Bên cạnh đó, ông Long chỉ ra các điểm nghẽn chính làm cho công nghiệp cơ khí nội địa Việt Nam chậm phát triển, tụt hậu so với quốc tế như hiện nay. Đơn cử nhiều năm qua, Việt Nam đã đầu tư nguồn lực lớn để phát triển các dự án năng lượng, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản, xây dựng công trình giao thông, hệ thống thủy lợi, dịch vụ bưu chính viễn thông…

Thế nhưng ngành cơ khí nội địa lại không có được nhiều thị phần trong thị trường này vì DN luôn phải tự bơi trong cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, phải theo cơ chế xin - cho, ít đơn hàng đầu tư công và luôn bị DN nước ngoài cạnh tranh quyết liệt.

Các DN cơ khí cũng cho rằng, Chính phủ và chính quyền địa phương đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế đối với ngành này, nhưng các chính sách đó chưa thực sự đi vào cuộc sống. Chẳng hạn, cơ chế vay ODA và đấu thầu còn bất cập nên DN cơ khí nội địa thường chỉ được chủ đầu tư, nhà thầu nước ngoài xét cho nhận làm B với giá thuê rất thấp. Vì vậy, thời gian tới để ngành công nghiệp cơ khí chế tạo trở thành “xương sống” của nền kinh tế, các DN trong ngành khuyến nghị cần tạo ra dung lượng thị trường cho sản phẩm cơ khí.

Ông Lê Văn Tuấn - Tổng Giám đốc Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) nêu ý kiến, cần đưa ra những chính sách cụ thể, như quy định và giám sát thực hiện chặt chẽ đối với các dự án đầu tư tại Việt Nam không phân biệt nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, tư nhân, FDI… nếu các phần việc chế tạo cơ khí trong nước có thể sản xuất được, thì bắt buộc phải giao DN trong nước thực hiện. Việc này phải được xem xét và phê duyệt ngay từ giai đoạn lập, quy hoạch và phê duyệt dự án đầu tư.

Ngoài ra Chính phủ cần bổ sung chính sách và biện pháp kiểm soát tối đa việc cho nhập khẩu máy, dây chuyền công nghệ sản xuất, phương tiện vận tải, hàng hóa đã qua sử dụng để bảo vệ sức mua cho thị trường nội địa như các quốc gia khác đã và đang thực hiện quyết liệt việc này để bảo vệ sản xuất nội địa.

Ông Tuấn cũng đề xuất, cần ban hành một số cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ cụ thể về thuế, phí. Cụ thể là xem xét giảm thuế thu nhập DN có lộ trình đến năm 2035; giảm mức thuế suất với các lô hàng, sản phẩm xuất khẩu đến năm 2025 là 0%, từ 2025 - 2030 là 5%, sau 2030 là 10%; miễn thuế thu nhập cá nhân đối với các DN cơ khí hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Bên cạnh đó, xem xét miễn giảm tiền thuê đất có lộ trình đối với các cơ sở chế tạo cơ khí.

Lan Hương

Nguồn:

Tags: Cơ khí
Tin nổi bật
  • Kiên định mục tiêu kép
    Sự kiện 08:00 | 05/08/2020

    Trong bối cảnh dịch Covid-19 đã bùng phát trở lại tại Việt Nam, Chính phủ vẫn thống nhất quan điểm phải đảm bảo mục tiêu ...

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.120 23.250 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.780
57.950
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.780
57.930
Vàng SJC 5c
56.780
57.950
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.550
54.650