Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/6

07:30 | 05/06/2019

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 2.000 tỷ đồng. VN-Index tăng 4,69 điểm (+0,50%) lên 951,16 điểm. HNX-Index giảm nhẹ 0,22 điểm (-0,21%) xuống 103,06 điểm; UPCOM-Index tăng 0,10 điểm (+0,18%) lên mức 54,90 điểm. Thanh khoản thị trường sụt giảm. Khối ngoại mua ròng mạnh 180 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/6
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 27-31/5

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 4/6, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.052 VND/USD, giảm tiếp 8 đồng so với phiên đầu tuần. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.694 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.410 VND/USD, tăng nhẹ 6 đồng so với phiên 3/6. Tỷ giá tự do giảm 5 đồng ở chiều mua vào và 20 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.385 - 23.400 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 4/6, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,06 - 0,12 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn trong khi tăng 0,02 - 0,03 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng so với phiên đầu tuần; giao dịch tại: qua đêm 3,20%; 1 tuần 3,40%; 2 tuần 3,57% và 1 tháng 3,72%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở các kỳ hạn qua đêm và 2 tuần trong khi tăng 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 tuần và 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,51%; 1 tuần 2,62%; 2 tuần 2,69%, 1 tháng 2,83%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giữ nguyên ở kỳ hạn 3 năm trong khi giảm ở các kỳ hạn 5 năm và 10 năm, tăng ở các kỳ hạn 7 năm và 15 năm, giao dịch tại: 3 năm 3,55%; 5 năm 3,80%; 7 năm 4,18%; 10 năm 4,68%; 15 năm 5,03%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 13.000 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 15.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 2.000 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 80.999 tỷ đồng.

N Ngân hàng Nhà nước chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất 4,75%, không có khối lượng trúng thầu, số dư trên kênh cầm cố bằng 0.

Thị trường chứng khoán hồi phục trở lại sau phiên lao dốc đầu tuần. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 4,69 điểm (+0,50%) lên 951,16 điểm. HNX-Index giảm nhẹ 0,22 điểm (-0,21%) xuống 103,06 điểm; UPCOM-Index tăng 0,10 điểm (+0,18%) lên mức 54,90 điểm.

Thanh khoản thị trường sụt giảm so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt gần 3.700 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng mạnh 180 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Bộ Tài chính, do tiến độ chi thấp hơn tiến độ thu ngân sách nên cân đối Ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2019 thặng dư gần 78 nghìn tỷ đồng.

Trong đó, thu cân đối Ngân sách Nhà nước tháng 5 ước đạt 110,2 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đạt 628,1 nghìn tỷ đồng, bằng 44,5% dự toán, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Tổng chi Ngân sách Nhà nước tháng 5/2019 ước đạt 120,7 nghìn tỷ đồng; luỹ kế 5 tháng đạt 550,2 nghìn tỷ đồng, bằng 33,7% dự toán, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Tin quốc tế

Thống đốc Fed Jerome Powell khẳng định tổ chức này sẵn sàng hành động để duy trì tăng trưởng kinh tế thế giới và trong nước, trong trường hợp cuộc chiến tranh kinh tế tiếp tục gây ảnh hưởng ngày một nghiêm trọng hơn.

Trước đó vào thứ Hai, Chủ tịch chi nhánh Fed bang Missouri James Bullard nhận định chắc chắn sẽ có một đợt giảm lãi suất sớm từ tổ chức này.

Liên quan đến thông tin kinh tế Mỹ, giá trị đơn đặt hàng nhà máy tháng 4 giảm 0,8% so với tháng trước sau khi tăng 1,3% ở tháng trước đó, tích cực hơn mức giảm 1,0% theo dự báo.

CPI chung và CPI lõi của khu vực Eurozone tăng lần lượt 1,2% và 0,8% so với cùng kỳ trong tháng 5, thấp hơn mức 1,7% và 1,2% của tháng 4 đồng thời thấp hơn mức dự báo 1,4% và 1,0% của các chuyên gia. Thị trường chờ đợi ECB liệu có thể đưa ra những biện pháp khắc phục tình hình trong cuộc họp sẽ diễn ra ngày 6/6 hay không.

Trong cuộc họp chính sách, NHTW Úc RBA quyết định cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục 1,25% thay vì mức 1,50% trước đó. RBA vẫn giữ nguyên kịch bản Úc tăng trưởng 2,75% trong năm 2019 và 2020 do được hỗ trợ từ việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Liên quan đến chỉ báo kinh tế, doanh số bán lẻ của Úc giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước trong tháng 4 sau khi tăng 0,3% ở tháng trước đó, trái với dự báo tiếp tục tăng 0,2%.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.390 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.215 23.395 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.200 23.390 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.220 23.370 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.380 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.380 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.203 23.413 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.195 23.395 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.210 23.390 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.240 23.380 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.600
49.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.550
49.000
Vàng SJC 5c
48.550
49.020
Vàng nhẫn 9999
47.600
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050