Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 20-24/7

07:04 | 27/07/2020

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 6,4 tỷ đồng. Chốt tuần 24/7, VN-Index lao xuống mức 829,16 điểm, giảm mạnh 42,86 điểm (-4,92%) so với phiên cuối tuần trước đó; thanh khoản thị trường tăng tích cực; khối ngoại tiếp tục bán mạnh ròng hơn 520 tỷ đồng…

diem lai thong tin kinh te tuan tu 20 247 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 20 247 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 20 247 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 21/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 20 247 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 20/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 20 247

Tổng quan

Sáu tháng đầu năm 2020, lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ghi nhận giảm tốc kể từ sau khủng hoảng tài chính 2009, xuất nhập khẩu dịch vụ cũng giảm mạnh. Cả năm 2020, khả năng sẽ khó đạt mục tiêu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên 500 tỷ USD.

Kết thúc hai quý đầu năm, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 240,12 tỉ USD, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 122,8 tỉ USD, tăng nhẹ 0,2% (tương ứng tăng 230 triệu USD) và trị giá nhập khẩu là 117,3 tỷ USD, giảm 2,9% (tương ứng giảm 3,5 tỷ USD). Đặc biệt, riêng trong quý II, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá giảm đến 9% so với cùng kỳ năm trước.

Như vậy, nửa đầu năm 2020, cả nước xuất siêu khoảng 5,5 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức xuất siêu 1,6 tỷ của cùng kỳ 2019.

Có thể thấy, trong 3 tháng đầu năm, xuất nhập khẩu của nước ta tăng dần khi Tết Nguyên đán rơi vào cuối tháng 1. Tuy nhiên, dịch Covid-19 đã làm tổng kim ngạch sụt giảm mạnh trong tháng 4 và tháng 5, khi nhiều đối tác quốc tế chính của Việt Nam cùng đóng cửa nền kinh tế nhằm kiểm soát đại dịch. Tháng 6 vừa qua cho thấy sự phục hồi tốt của lĩnh vực thương mại, khi thế giới nỗ lực kiểm soát Covid-19 và từng bước mở cửa lại nền kinh tế.

Trong 6 tháng đầu năm, có 4 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị trên 10 tỉ USD, đáng chú ý mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất là điện thoại và linh kiện đã giảm gần 6,6%, đạt 21,96 tỉ USD. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ ba là dệt may cũng tiếp tục ghi nhận giảm 12,7%, đạt 13,18 tỉ USD.

Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: điện thoại và linh kiện chiếm 91,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 70,4%; dệt may và giày dép đều chiếm trên 50%.

Xét theo cơ cấu nhóm hàng, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng xuất khẩu tăng nhẹ chưa tới 1%. Nhóm công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp giảm gần 4%. Tỷ trọng hai nhóm này chiếm gần 90% tổng xuất khẩu của Việt Nam.

Kết thúc nửa đầu năm 2020, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 30,3 tỉ USD, tăng hơn 10%. Kế tiếp là Trung Quốc với 19,5 tỉ USD, trong đó nhóm hàng điện thoại và linh kiện xuất sang thị trường này tăng 127%. Xuất khẩu sang ba thị trường còn lại EU, ASEAN, Nhật đều giảm tốc.

Nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm ước đạt 117,3 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng năm ngoái. Riêng trong quý II, kim ngạch nhập khẩu giảm gần 10% so với cùng kỳ và giảm 3% so với quý I năm nay.

Nhóm 13 mặt hàng nhập khẩu có giá trị trên 1 tỉ USD chiếm tới 70% tổng giá trị nhập khẩu. Ngoại trừ điện tử, máy tính và linh kiện tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, các mặt hàng như máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, vải, điện thoại và linh kiện đều giảm mạnh.

Về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là nhà nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 34,8 tỉ USD, tuy nhiên đã giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Hai thị trường nhập khẩu có giá trị lớn tiếp theo là Hàn Quốc và ASEAN cũng ghi nhận giảm.

Về xuất nhập khẩu dịch vụ, trong sáu tháng, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 4,7 tỉ USD, giảm 50,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 2,4 tỉ USD (chiếm hơn 50% thị phần), giảm 56,1%; dịch vụ vận tải đạt 636 triệu USD (chiếm 13,4%), giảm 70,6% do các đường bay quốc tế ngừng khai thác.

Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ sáu tháng đầu năm nay ước đạt 8,9 tỉ USD, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó dịch vụ vận tải đạt 3,7 tỉ USD, chiếm 41,8% tổng kim ngạch và giảm 2,4%; dịch vụ du lịch đạt 2,1 tỉ USD, chiếm 23,6% và giảm 32,6%.

Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2020 ước tính đạt 4,2 tỉ USD, bằng 88,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cùng kỳ năm trước.

Tại cuộc họp Chính phủ với địa phương diễn ra trong tháng 7, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đề nghị các ngành, địa phương phấn đấu không giảm chỉ tiêu xuất nhập khẩu, tiếp tục phấn đấu cán mốc trên 500 tỷ USD và giữ cán cân thương mại ở mức xuất siêu. Tuy nhiên, mục tiêu này không dễ đạt được.

Hoạt động xuất khẩu trong ngắn hạn được dự báo vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi khó khăn, tuy nhiên, những dấu hiệu tích cực cũng đã bắt đầu xuất hiện. Đó là, hoạt động xuất khẩu trong tháng 6/2020 sang các thị trường đã có diễn biến tích cực hơn so với tháng 5 khi dịch bệnh Covid-19 đang từng bước được khống chế ở nhiều nước trên thế giới; Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 tạo ra động lực mới cho xuất khẩu những tháng cuối năm 2020 và những năm tới; Hiệp định CPTPP cũng đang mang lại cơ hội xuất khẩu hàng hóa rất lớn.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ tuần từ 20-24/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh theo xu hướng giảm dần. Chốt phiên 24/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.221 VND/USD, giảm 14 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên niêm yết ở mức 23.175 VND/USD ở tất cả các phiên. Tỷ giá bán được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt tuần ở mức 23.868 VND/USD.

Tỷ giá liên ngân hàng trong tuần vừa qua biến động trong biên độ hẹp. Kết thúc phiên 24/7, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.185 VND/USD, giảm nhẹ 5 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do gần như không thay đổi trong tuần qua. Chốt phiên 24/7, tỷ giá tự do giữ nguyên ở chiều mua vào trong khi tăng trở lại 10 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 20-24/7, lãi suất VND liên ngân hàng có xu hướng tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn. Chốt phiên 24/7, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: qua đêm 0,19% (không thay đổi); 1 tuần 0,23% (+0,02 điểm phần trăm); 2 tuần 0,32% (+0,02 điểm phần trăm); 1 tháng 0,58% (+0,02 điểm phần trăm).

Lãi suất USD liên ngân hàng cũng chỉ biến động nhẹ trong tuần qua ở tất cả các kỳ hạn. Cuối phiên 24/7, lãi suất USD liên ngân hàng đứng ở mức qua đêm 0,19 (+0,03 điểm phần trăm); 1 tuần 0,26% (+0,02 điểm phần trăm); 2 tuần 0,35% (+0,01 điểm phần trăm) và 1 tháng 0,56% (+0,01 điểm phần trăm).

Thị trường mở tuần từ 20-24/7, Ngân hàng Nhà nước đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Không có khối lượng trúng thầu trong tuần qua. Trong tuần có 6,4 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 6,4 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố về mức 0.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước trong tuần qua.

Thị trường trái phiếu tuần qua, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 9.205/14.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ ở các kỳ hạn từ 5 năm đến 30 năm. Tỷ lệ trúng thầu đạt 66% - ghi nhận tuần có tỷ lệ trúng thầu thấp nhất kể từ đầu tháng 6.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5 năm giảm mạnh 0,17% về mức 1,75%/năm, kỳ hạn 10 năm và 15 năm tăng nhẹ 0,02% lên lần lượt 2,80%/năm và 3,01%/năm, kỳ hạn 20 năm và 30 năm giữ nguyên tại 3,34%/năm và 3,50%/năm. Trong tuần qua không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.

Tính từ đầu tháng 7, Kho bạc Nhà nước phát hành thành công 59 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 45% so với kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ quý III là 130 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế từ đầu năm, Kho bạc Nhà nước phát hành thành công 146 nghìn tỷ đồng - hoàn thành 56% so với kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ năm 2020 là 260 nghìn tỷ đồng.

Với khối lượng đáo hạn lũy kế là 68 nghìn tỷ đồng, Kho bạc Nhà nước phát hành lũy kế ròng 78 nghìn tỷ đồng.

Trong tuần này từ 27 - 31/7, Kho bạc Nhà nước dự kiến gọi thầu 9 nghìn tỷ đồng, tiếp tục giảm với mức 14 nghìn tỷ đồng của tuần trước. Trong tuần này cũng không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 10.061 tỷ đồng/phiên, giảm nhẹ so với mức 11.517 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó.

Lợi suất trái phiếu chính phủ tuần qua ít biến động so với tuần trước đó. Chốt phiên 24/7, lợi suất trái phiếu chính phủ giao dịch quanh 1 năm 0,41% (0 điểm phần trăm); 2 năm 0,51% (+0,01 điểm phần trăm); 3 năm 0,87% (+0,01 điểm phần trăm); 5 năm 1,76% (-0,06điểm phần trăm); 7 năm 2,29% (-0,05 điểm phần trăm); 10 năm 2,87% (+0,02 điểm phần trăm); 15 năm 3,06% (+0 điểm phần trăm); 30 năm 3,51% (0 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán tuần từ 20-24/7, cả 3 chỉ số đều chịu áp lực giảm điểm, đặc biệt phiên cuối tuần giảm mạnh. Chốt tuần 24/7, VN-Index lao xuống mức 829,16 điểm, giảm mạnh 42,86 điểm (-4,92%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 7,48 điểm (-6,40%), xuống mức 109,33 điểm; UPCOM-Index giảm 1,79 điểm (-3,11%) xuống 55,78 điểm.

Thanh khoản thị trường tăng tích cực so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt hơn 5.400 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại tiếp tục bán mạnh ròng hơn 520 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 20 247
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc có những bước leo thang mới trong tuần vừa qua. Bên cạnh đó, Mỹ đón nhiều thông tin kinh tế trái chiều.

Ngày 21/7, Mỹ yêu cầu Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Houston đóng cửa trong vòng 72 giờ nhằm "bảo vệ sở hữu trí tuệ và thông tin cá nhân của người Mỹ". Tổng thống Donald Trump cũng cho biết có khả năng sẽ yêu cầu đóng cửa thêm các lãnh sự quán Trung Quốc ở những thành phố khác.

Ngày 24/7, Bắc Kinh cũng gửi yêu cầu đóng cửa Tổng lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô, nhằm trả đũa động thái từ Washington.

Cũng trong tuần qua Mỹ đã bắt giữ 4 nhà nghiên cứu Trung Quốc vì không tiết lộ mối liên hệ với quân đội Trung Quốc.

Cho tới hiện tại, Bắc Kinh phủ nhận những cáo buộc của Washington đối với những nhà nghiên cứu này, đồng thời chỉ trích Washington vi phạm hàng loạt luật pháp quốc tế.

Liên quan đến kinh tế Mỹ, giá nhà tại nước này trong tháng 6 giảm 0,3% so với tháng trước sau khi chỉ tăng nhẹ 0,1% ở tháng trước đó, trái với kỳ vọng tiếp tục tăng 0,3%.

Tuy nhiên, doanh số bán nhà cũ tại Mỹ trong tháng 6 vừa qua đạt 4,72 triệu căn, cao hơn so với 3,91 triệu căn của tháng 5 và gần khớp với dự báo ở mức 4,77 triệu căn.

Doanh số bán nhà mới tại Mỹ đạt 776 nghìn căn trong tháng 6, cao hơn mức 682 nghìn của tháng 5 và vượt qua kỳ vọng ở mức 700 nghìn.

Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ trong tuần kết thúc ngày 18/7 ở mức 1,42 triệu đơn, nhiều hơn mức 1,31 triệu của tuần trước đó và đồng thời cao hơn dự báo ở mức 1,30 triệu.

Cuối cùng, PMI sơ bộ lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ của Mỹ lần lượt ở mức 51,3 điểm và 49,6 điểm trong tháng 7, cùng tăng so với 49,8 và 47,9 điểm của tháng 6, tuy nhiên đều thấp hơn dự báo ở mức 52,0 và 51,0 điểm.

Ngày 21/7, các lãnh đạo của 27 nước thành viên EU đã thống nhất gói hỗ trợ phục hồi hậu dịch cho khu vực EU với tổng giá trị 750 tỷ EUR.

Ban đầu Pháp và Đức đề nghị giá trị khoản tài trợ để hỗ trợ phục hồi tới 500 tỉ EUR trong gói 750 tỷ và 250 tỷ còn lại là cho vay. Tuy nhiên, các nước đã đồng ý giảm mức tài trợ xuống còn 390 tỷ và cho vay phần còn lại.

Nhóm nước Frugals bao gồm các nước Hà Lan, Thụy Điển, Áo, Đan Mạch và Phần Lan sẽ được nhận lại một khoản tiền nhỏ sau những đóng góp chung vào gói 750 tỷ, nguyên nhân do những nước trên đi theo chính sách thắt lưng buộc bụng và cảm thấy không công bằng trong gói 750 tỷ trên.

Liên quan đến kinh tế Eurozone, niềm tin tiêu dùng tại khu vực này ở mức -15 điểm trong tháng 7, bằng mức điểm của tháng 6 và thấp hơn so với mức -12 điểm theo dự báo.

PMI sơ bộ lĩnh vực sản xuất của nước Đức nói riêng và Eurozone nói chung lần lượt ở mức 50,0 và 51,1 điểm trong tháng 7, tăng so với 45,2 và 47,4 điểm của tháng 6, đồng thời cùng cao hơn so với dự báo ở mức 48,0 và 50,0 điểm.

PMI sơ bộ lĩnh vực dịch vụ của Đức và Eurozone lần lượt là 56,7 và 55,1 điểm trong tháng 7, tăng so với 47,3 và 48,3 điểm của tháng 6, đồng thời cùng cao hơn dự báo ở mức 50,4 và 51,0 điểm.

Nước Anh đón một số thông tin kinh tế tích cực. Doanh số bán lẻ của Anh tăng 13,9% so với tháng trước trong tháng 6, nối đà tăng mạnh 12,3% của tháng 5, đồng thời vượt so với mức tăng 8,3% theo dự báo.

Bên cạnh đó, PMI sơ bộ lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ của Anh lần lượt đạt 53,6 và 56,6 điểm trong tháng 7, tăng so với 50,1 và 47,1 điểm của tháng 6, cùng vượt qua dự báo ở mức 52,0 và 51,4 điểm.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.075 23..285 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.120 23.250 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.750
57.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.750
57.900
Vàng SJC 5c
56.750
57.920
Vàng nhẫn 9999
54.050
55.050
Vàng nữ trang 9999
53.650
54.750