Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 27-31/7

07:31 | 03/08/2020

Thị trường mở tuần qua không có giao dịch thành công. Chốt tuần 31/7, VN-Index lao xuống mức 798,39 điểm, giảm mạnh 30,77 điểm (-3,71%) so với phiên cuối tuần trước đó; thanh khoản thị trường ở mức thấp; nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trở lại gần 125 tỷ đồng…

diem lai thong tin kinh te tuan tu 27 317 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 30/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 27 317 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 29/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 27 317 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 28/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 27 317 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 27/7
diem lai thong tin kinh te tuan tu 27 317

Tổng quan

Ảnh hưởng từ điều chỉnh giá xăng, CPI tháng 7/2020 tăng 0,4% so với tháng trước. Giá vàng trong nước và trên thế giới đều tăng cao.

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2020, chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 7/2020 tăng 0,4% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước biến động tăng theo giá xăng dầu thế giới và nhu cầu sử dụng điện, nước tăng cao trong thời gian nắng nóng kéo dài.

Mặc dù vậy, CPI tháng 7 vẫn giảm 0,19% so với tháng 12/2019 (mức thấp nhất trong giai đoạn 2016 - 2020), và tăng 3,39% so với cùng kì năm trước. Bình quân trong 7 tháng năm 2020, CPI tăng 4,07% so với cùng kì năm ngoái.

Lạm phát cơ bản tháng 7/2020 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 2,31% so với cùng kì năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng năm 2020 tăng 2,74% so với bình quân cùng kì năm 2019.

Trong mức tăng 0,4% của CPI tháng 7/2020 so với tháng trước, có tới 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng.

Cụ thể, nhóm giao thông tăng nhiều nhất với 3,91% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm ngày 27/6 làm chỉ số giá xăng, dầu tăng 9,02% (tác động làm CPI chung tăng 0,37%). Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,47%, chủ yếu do giá điện, nước sinh hoạt tăng lần lượt là 2% và 0,25% khi nhu cầu sử dụng điện, nước tăng mạnh vào thời điểm thời tiết nắng nóng và do giá gas tăng 1,13%, giá dầu hỏa tăng 8,2%.

Bên cạnh đó, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,3% do đây là tháng học sinh, sinh viên bước vào kì nghỉ hè nên nhu cầu vui chơi giải trí tăng cao. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,06%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,02% do thời tiết nắng nóng kéo dài nên nhu cầu tiêu dùng đồ uống, giải khát tăng (giá nước giải khát có ga tăng 0,11%, giá nước quả ép tăng 0,06%); nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục cùng mức tăng 0,02%; nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,17%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18% (trong đó: lương thực giảm 0,2% do giá gạo giảm 0,33%; thực phẩm giảm 0,3%); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Các chuyên gia cho rằng, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 vừa bùng phát trở lại tại Việt Nam, cầu trong nước vừa được phục hồi có khả năng sẽ yếu đi. Điều này sẽ góp phần giúp CPI có thể không đáng quan ngại nữa để đạt mục tiêu cả năm, mặc dù mới hết 7 tháng CPI đã tăng 3,39% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ngoài ra, tình hình dịch bệnh COVID-19, chiến tranh thương mại, xung đột chính trị trên thế giới còn nhiều bất ổn, khó lường… khiến cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu chưa thể hồi phục được ngay và làm cho giá cả nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới khó tăng như kỳ vọng.

Một điểm đáng chú ý trong tháng là giá vàng trong nước tăng theo giá vàng thế giới. Giá vàng thế giới tăng lên mức cao gần 2.000 USD/oz do tình hình kinh tế thế giới dự báo tiêu cực, dịch Covid-19 tiếp tục lan nhanh, các nước đều đưa ra các gói kích thích kinh tế.

Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 31/7 tăng 30,17% so với tháng cuối năm 2019, cao nhất trong vòng 9 năm kể từ năm 2012.

Ngoài ra, trong nước, lãi suất tiết kiệm giảm mạnh, trái phiếu doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro, dẫn đến nhu cầu mua tài sản an toàn như vàng tăng cao.

Trong tuần cuối tháng 7, giá vàng SJC tăng thêm khoảng 3 triệu đồng/lượng và đã tăng tới gần 10 triệu đồng mỗi lượng so với đầu tháng, từ xấp xỉ 50 triệu đồng/lượng lên mức gần 58 triệu đồng/lượng.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ tuần từ 27-31/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh theo xu hướng tăng - giảm nhẹ luân phiên qua các phiên. Chốt phiên 31/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.213 VND/USD, giảm 8 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên niêm yết ở mức 23.175 VND/USD ở tất cả các phiên. Tỷ giá bán được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt tuần ở mức 23.859 VND/USD.

Tỷ giá liên ngân hàng gần như không thay đổi trong tuần vừa qua. Kết thúc phiên 31/7, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.175 VND/USD, không thay đổi so với phiên cuối tuần trước đó.

Tương tự, tỷ giá trên thị trường tự do ít biến động trong tuần qua. Chốt phiên 31/7, tỷ giá tự do giữ nguyên ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 27-31/7, lãi suất VND liên ngân hàng tiếp tục xu hướng tăng nhẹ qua các phiên như tuần trước đó ở tất cả các kỳ hạn. Chốt phiên 31/7, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: qua đêm 0,26% (+0,07 điểm phần trăm); 1 tuần 0,38% (+0,15 điểm phần trăm); 2 tuần 0,49% (+0,17 điểm phần trăm); 1 tháng 0,65% (+0,07 điểm phần trăm).

Lãi suất USD liên ngân hàng tiếp tục biến động nhẹ trong tuần qua ở tất cả các kỳ hạn. Cuối phiên 31/7, lãi suất USD liên ngân hàng đứng ở mức qua đêm 0,20 (+0,01 điểm phần trăm); 1 tuần 0,29% (+0,03 điểm phần trăm); 2 tuần 0,38% (+0,03 điểm phần trăm) và 1 tháng 0,54% (-0,02 điểm phần trăm).

Thị trường mở tuần từ 27-31/7, Ngân hàng Nhà nước đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Không có khối lượng trúng thầu trong tuần qua. Trong tuần không có khối lượng đáo hạn trên kênh này.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước trong tuần qua.

Thị trường trái phiếu tuần qua, Kho bạc Nhà nước chỉ huy động được 116/9.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt hơn 1%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được 100/2.000 tỷ đồng; kỳ hạn 10 năm 16/4.000 tỷ đồng; kỳ hạn 15 năm và 20 năm đấu thầu thất bại.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5 năm tại 1,74%/năm - giảm nhẹ 0,01%; kỳ hạn 10 năm giữ nguyên tại 2,80%/năm. Trong tuần qua không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.

Tính từ đầu tháng 7, Kho bạc Nhà nước phát hành thành công 59 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 45% so với kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ quý III là 130 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế từ đầu năm, Kho bạc Nhà nước phát hành thành công 146 nghìn tỷ đồng - hoàn thành 56% so với kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ năm 2020 là 260 nghìn tỷ đồng. Với khối lượng đáo hạn lũy kế là 68 nghìn tỷ đồng, Kho bạc Nhà nước phát hành lũy kế ròng 78 nghìn tỷ đồng.

Trong tuần này từ 3-7/8, Kho bạc Nhà nước dự kiến chỉ gọi thầu 6.000 tỷ đồng, tiếp tục giảm từ mức 9.000 tỷ đồng của tuần trước. Trong tuần này cũng không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 11.700 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 10.061 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất trái phiếu chính phủ tuần qua đồng loạt tăng so với tuần trước đó.

Chốt phiên 31/7, lợi suất trái phiếu chính phủ giao dịch quanh 1 năm 0,42% (+0,01 điểm phần trăm); 2 năm 0,51% (+0,01 điểm phần trăm); 3 năm 0,88% (+0,01 điểm phần trăm); 5 năm 1,83% (+0,08điểm phần trăm); 7 năm 2,35% (+0,09 điểm phần trăm); 10 năm 2,94% (+0,08 điểm phần trăm); 15 năm 3,1% (+0,05 điểm phần trăm); 30 năm 3,52% (+0,01 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán tuần từ 27-31/7, mặc dù có một số phiên hồi phục tích cực, cả 3 chỉ số đều chốt tuần với sắc đỏ; điểm sáng của thị trường là khối ngoại đã mua ròng trở lại.

Chốt tuần 31/7, VN-Index lao xuống mức 798,39 điểm, giảm mạnh 30,77 điểm (-3,71%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 1,82 điểm (-1,66%), xuống mức 107,51 điểm; UPCOM-Index giảm 0,98 điểm (-1,76%) xuống 54,80 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức thấp với giá trị giao dịch đạt gần 4.300 tỷ đồng/phiên. Nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trở lại gần 125 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 27 317
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Ngày 29/7, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed quyết định giữ lãi suất chính sách ở mức từ 0,0 - 0,25%, không đổi so với trước. Ngoài ra, Fed cam kết tiếp tục duy trì mua trái phiếu chính phủ và các chương trình cho vay để hỗ trợ thị trường.

Cơ quan này nhận định các hoạt động kinh tế - tài chính Mỹ những tháng gần đây cho thấy dấu hiệu hồi phục. Mặc dù vậy, GDP của Mỹ được Chính phủ nước này báo cáo sơ bộ vẫn suy giảm mạnh 32,9% trong quý II, sau khi giảm 5,0% ở quý trước đó và tương đối khớp với dự báo giảm 34,5%.

Trong tháng 6, số nhà chờ bán tại nước Mỹ tăng 16,6% so với tháng trước sau khi đã tăng mạnh 44,3% ở tháng trước đó, vượt nhẹ so với mức tăng 15,6% theo dự báo.

Giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền lõi và hàng hóa lâu bền chung tại Mỹ lần lượt tăng 3,3% và 7,3% so với tháng trước trong tháng 6, nối tiếp đà tăng 3,7% và 15,7% của tháng trước đó, gần khớp với dự báo tăng 3,5% và 7,0%.

Về thị trường lao động, mức thu nhập của người Mỹ trong tháng 6 giảm 1,1% so với tháng trước; nối đà giảm 4,4% của tháng 5 và sâu hơn so với dự báo giảm 0,8%.

Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 25/7 ở mức 1,434 triệu đơn, cao hơn so với 1,422 triệu của tuần trước đó và xấp xỉ dự báo ở mức 1,440 triệu.

Eurozone cũng đón nhiều thông tin kinh tế trái chiều trong tuần qua và chủ yếu mang màu sắc tiêu cực. GDP Eurozone giảm 12,1% trong quý II sau khi giảm 3,6% ở quý trước đó, gần khớp với dự báo giảm 12,0% của các chuyên gia.

Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này trong tháng 7 tăng lên 7,8%, trái với dự báo giữ nguyên ở mức 7,7% của tháng 6.

CPI và CPI lõi tại Eurozone lần lượt tăng 0,4% và 1,2% so với tháng trước trong tháng 7, tích cực hơn so với mức 0,3% và 0,8% của tháng 6.

Đối với nước Đức nói riêng, GDP nước này cũng giảm tới 10,1% trong quý vừa qua, tiêu cực hơn mức giảm 2,0% của quý I và sâu hơn dự báo giảm 9,0%. Tuy nhiên, niềm tin kinh tế tại Đức tăng lên 90,5 điểm trong tháng 7 từ mức 86,3 điểm của tháng 6, vượt nhẹ so với dự báo ở mức 89,2 điểm.

Nước Anh hẹn EU tái đàm phán, đồng thời thúc đẩy quá trình đàm phán thương mại song phương với Mỹ. Trưởng đoàn đàm phán Brexit của Anh, ông David Frost công bố văn kiện ghi lịch vòng đàm phán thứ 7 giữa Anh và Eurozone sẽ diễn ra từ ngày 17-21/8, vòng đàm phán thứ 8 vào ngày 7-11/9 và vòng thứ 9 vào ngày 28/9 đến 2/10.

Ông cho biết thêm rằng cả hai bên đang bế tắc trong các vấn đề như thỏa thuận đảm bảo cạnh tranh công bằng và đánh bắt cá. Hiện nay, nước Anh vẫn đang trong quá trình chuyển tiếp hậu Brexit, trong đó hai bên tiếp tục duy trì mô hình quan hệ cũ cho tới kết thúc năm 2020.

Song song với các cuộc họp với EU, nước Anh cũng sắp xếp cuộc gặp giữa Bộ trưởng Bộ Thương mại Anh Liz Truss và Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer trong hai ngày 3-4/8 tới, nhằm đánh giá và đẩy nhanh thỏa thuận thương mại tự do giữa hai bên.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250