Chỉ số kinh tế:
Ngày 11/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.596 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.367/ 26.825 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Khách hàng được tự lựa chọn hạn mức giao dịch và thời gian chờ

PV
PV  - 
Liên quan đến văn bản 6190/NHNN-TT ngày 20/7/2026 về việc cung cấp dịch vụ đăng ký hạn mức và thời gian chờ cho khách hàng, ông Phạm Anh Tuấn – Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, thay vì áp dụng một cơ chế chung cho tất cả khách hàng, quy định mới cho phép khách hàng chủ động lựa chọn hạn mức giao dịch và thời gian chờ phù hợp với nhu cầu sử dụng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Đây là một công cụ để khách hàng tự thiết lập thêm một lớp bảo vệ đối với các giao dịch có giá trị lớn hoặc tiềm ẩn rủi ro.
aa
Sửa Luật Thuế thu nhập cá nhân: E ngại vì thời gian chờ đợi quá dài NHNN yêu cầu các ngân hàng cung cấp dịch vụ đăng ký hạn mức và thời gian chờ cho khách hàng “Thời gian chờ” trong giao dịch thanh toán: Tạo thêm cơ hội bảo vệ khách hàng trước lừa đảo

Để hỗ trợ khách hàng giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện giao dịch thanh toán, góp phần ngăn chặn nguy cơ lừa đảo gian lận, NHNN yêu cầu các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp dịch vụ đăng ký hạn mức và thời gian chờ cho khách hàng. Các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xây dựng phương án triển khai cụ thể, thực hiện trước ngày 01/3/2027.

Thưa ông, việc triển khai dịch vụ cho phép khách hàng đăng ký hạn mức giao dịch và thời gian chờ trước khi giao dịch được thực hiện sẽ hạn chế tình trạng gian lận, lừa đảo hiện nay. Xin Ông thông tin thêm về điểm khác biệt của quy định này?

Điểm khác biệt cốt lõi của quy định này so với cơ chế giao dịch hiện nay là tăng cường tính chủ động của khách hàng cá nhân trong việc phòng ngừa rủi ro lừa đảo đối với các giao dịch chuyển tiền trực tuyến.

Theo đó, thay vì áp dụng một cơ chế chung cho tất cả khách hàng, quy định mới cho phép khách hàng chủ động lựa chọn hạn mức giao dịch và thời gian chờ phù hợp với nhu cầu sử dụng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình. Đây là một công cụ để khách hàng tự thiết lập thêm một lớp bảo vệ đối với các giao dịch có giá trị lớn hoặc tiềm ẩn rủi ro.

Cụ thể, thời gian chờ tối thiểu 24 giờ được áp dụng đối với các giao dịch chuyển đến tài khoản thụ hưởng chưa từng nhận số tiền có giá trị bằng hoặc vượt hạn mức đã đăng ký từ khách hàng đó trong vòng 01 năm liền kề trước đó kể từ thời điểm khách hàng thực hiện giao dịch. Khách hàng được chủ động lựa chọn hạn mức giao dịch sẽ áp dụng thời gian chờ. Trường hợp khách hàng không đăng ký, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán sẽ áp dụng hạn mức mặc định là 400 triệu đồng và thời gian chờ tối thiểu 24 giờ; sau đó khách hàng vẫn có thể chủ động điều chỉnh hạn mức theo nhu cầu sử dụng hoặc không đăng ký sử dụng dịch vụ.

Khách hàng được tự lựa chọn hạn mức giao dịch và thời gian chờ
Ông Phạm Anh Tuấn – Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thực tiễn cho thấy, nhiều vụ lừa đảo chuyển tiền trực tuyến xảy ra khi nạn nhân bị các đối tượng thao túng tâm lý, tạo áp lực hoặc hối thúc phải chuyển tiền ngay. Việc có thêm khoảng thời gian chờ sẽ giúp khách hàng đủ thời gian để cắt đứt trạng thái tâm lý bị thao túng của nạn nhân, bình tĩnh cân nhắc lại quyết định giao dịch, kiểm tra lại thông tin, trao đổi với người thân hoặc liên hệ ngân hàng khi phát hiện dấu hiệu bất thường, qua đó giảm nguy cơ bị lừa đảo và tạo điều kiện để ngân hàng hỗ trợ xử lý kịp thời khi cần thiết.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy đây là giải pháp đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tăng cường phòng, chống lừa đảo trong thanh toán điện tử. Nhiều nước như Ấn Độ, Anh, Úc, Singapore và Đài Loan đã triển khai cơ chế "thời gian chờ" (cooling-off period) hoặc các biện pháp có tác dụng tương tự đối với các giao dịch có rủi ro cao hoặc giao dịch đến người thụ hưởng mới. Mặc dù cách thức triển khai có khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu tạo thêm khoảng thời gian để khách hàng xem xét lại quyết định giao dịch trước khi tiền được chuyển đi, qua đó góp phần hạn chế các vụ lừa đảo chuyển tiền trực tuyến.

Có thể khẳng định, quy định này không thay thế các biện pháp bảo đảm an toàn giao dịch hiện hành như xác thực sinh trắc học, xác thực đa yếu tố, OTP, giám sát giao dịch bất thường hay cảnh báo rủi ro của ngân hàng, mà bổ sung thêm một lớp bảo vệ dựa trên sự chủ động của chính khách hàng. Qua đó, khách hàng có thêm thời gian để cân nhắc trước khi hoàn tất các giao dịch có giá trị lớn hoặc tiềm ẩn rủi ro, góp phần hạn chế các vụ lừa đảo chuyển tiền trực tuyến đang có xu hướng diễn biến ngày càng tinh vi.

Theo ông, người dân nên cân nhắc những yếu tố nào để đưa ra hạn mức phù hợp với bản thân?

Việc lựa chọn hạn mức giao dịch áp dụng thời gian chờ phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng và mức độ chấp nhận rủi ro của từng khách hàng. NHNN không quy định một mức hạn mức chung phù hợp với tất cả mọi người, khách hàng có thể cân nhắc một số yếu tố.

Thứ nhất, nhu cầu giao dịch thực tế. Khách hàng có thể xem xét giá trị và tần suất các giao dịch chuyển tiền của mình, đặc biệt là các giao dịch chuyển tiền đến tài khoản thụ hưởng mới. Nếu ít phát sinh các giao dịch có giá trị lớn đến người thụ hưởng mới, khách hàng có thể lựa chọn hạn mức ở mức phù hợp với nhu cầu chi tiêu thông thường để tăng phạm vi các giao dịch được bảo vệ bởi cơ chế thời gian chờ. Ngược lại, đối với những khách hàng thường xuyên phát sinh các giao dịch có giá trị lớn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các nhu cầu chính đáng khác, có thể lựa chọn hạn mức cao hơn để bảo đảm hoạt động thanh toán không bị gián đoạn.

Thứ hai, mức độ am hiểu công nghệ và khả năng tự bảo vệ. Người cao tuổi, người ít sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử hoặc những người có nguy cơ cao trở thành mục tiêu của các đối tượng lừa đảo có thể cân nhắc lựa chọn hạn mức phù hợp để tăng thêm một lớp bảo vệ đối với các giao dịch có giá trị lớn. Thành viên trong gia đình cũng có thể quan tâm, tư vấn, hỗ trợ người thân trong việc thiết lập và quản lý các tính năng bảo vệ tài khoản.

Thứ ba, mục đích sử dụng của từng tài khoản thanh toán. Đối với khách hàng sử dụng nhiều tài khoản thanh toán, có thể cân nhắc thiết lập hạn mức khác nhau phù hợp với mục đích sử dụng của từng tài khoản. Chẳng hạn, tài khoản phục vụ chi tiêu thường xuyên có thể thiết lập hạn mức phù hợp với nhu cầu thanh toán hàng ngày; trong khi tài khoản chủ yếu dùng để tích lũy hoặc quản lý nguồn tiền lớn có thể lựa chọn hạn mức thận trọng hơn nhằm tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro.

Nhìn chung, cơ chế này được thiết kế theo hướng khách hàng chủ động lựa chọn. Hạn mức không phải là cố định mà có thể được điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng trong từng thời kỳ. Mục tiêu của chính sách là giúp khách hàng cân bằng giữa sự thuận tiện trong thanh toán và an toàn tài sản, đồng thời có thêm thời gian để phát hiện, ngăn chặn các giao dịch có dấu hiệu gian lận, lừa đảo trước khi tiền được chuyển đến người thụ hưởng.

Xin cảm ơn Ông!

PV

Tin liên quan

Tin khác

Xây dựng nguồn nhân lực tinh thông nghiệp vụ, làm chủ công nghệ

Xây dựng nguồn nhân lực tinh thông nghiệp vụ, làm chủ công nghệ

Cùng với những thành tựu vượt bậc về số hóa dịch vụ, ngành Ngân hàng cũng đang chứng kiến một cuộc “tái cấu trúc” về nhân sự chưa từng có. Để duy trì vị thế tiên phong và hướng tới phát triển bền vững, việc tái cấu trúc, đào tạo và phát triển một thế hệ nhân sự ngân hàng mới - những người vừa tinh thông nghiệp vụ vừa làm chủ công nghệ đã trở thành nhiệm vụ mang tính sống còn.
Khi doanh nghiệp trở thành trung tâm của chuyển đổi số ngân hàng

Khi doanh nghiệp trở thành trung tâm của chuyển đổi số ngân hàng

Chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các chương trình hành động của Chính phủ, NHNN xác định chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, mà còn góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo định hướng đó, nếu như trước đây các ngân hàng chủ yếu cạnh tranh bằng tốc độ số hóa giao dịch, mở rộng kênh ngân hàng số và gia tăng trải nghiệm trên ứng dụng, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang xây dựng các nền tảng tài chính có khả năng gắn với hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngân hàng có mặt ở mọi “điểm chạm” của nền kinh tế

Ngân hàng có mặt ở mọi “điểm chạm” của nền kinh tế

Không còn chỉ hiện diện khi người dân gửi tiết kiệm, doanh nghiệp vay vốn hay thực hiện một giao dịch chuyển tiền, ngân hàng đang xuất hiện ở ngày càng nhiều “điểm chạm” của nền kinh tế số. Từ vai trò trung gian tài chính, ngân hàng đang trở thành người kiến tạo hệ sinh thái số, kết nối dòng tiền, dữ liệu và dịch vụ, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số.
Làm chủ dữ liệu -  lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định

Làm chủ dữ liệu - lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định

Dữ liệu đang dần thay đổi cách các ngân hàng vận hành, ra quyết định và phục vụ khách hàng. Theo ông Nguyễn Hưng, Tổng giám đốc TPBank (ảnh trên), trong kỷ nguyên AI, làm chủ dữ liệu không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số mà còn là lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định đối với ngân hàng số.
Ngành Ngân hàng với cơ hội mới từ kỷ nguyên AI

Ngành Ngân hàng với cơ hội mới từ kỷ nguyên AI

Chuyển đổi số đã đưa ngân hàng từ quầy giao dịch lên môi trường số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra bước chuyển sâu hơn: từ số hóa giao dịch sang thông minh hóa vận hành, quản trị và dịch vụ. Trong kỷ nguyên dữ liệu và AI, cơ hội nằm ở việc phục vụ khách hàng nhanh hơn, khả năng hiểu khách hàng tốt hơn, ra quyết định chính xác và quản trị rủi ro chủ động hơn.
Bình dân học vụ số và hành trình thắp sáng tri thức số

Bình dân học vụ số và hành trình thắp sáng tri thức số

"Bình dân học vụ số phải trở thành phong trào cách mạng, toàn dân, toàn diện, bao trùm, sâu rộng". Tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm đã được ngành Ngân hàng triển khai sâu rộng không chỉ trong toàn Ngành, mà còn lan tỏa đến mọi miền đất nước thông qua việc lồng ghép các kiến thức số trong từng sản phẩm tiện ích số đến với người dân, để không ai bị bỏ lại phía sau trong dòng chảy chuyển đổi số.
Gieo mầm kinh tế số giữa đại ngàn

Gieo mầm kinh tế số giữa đại ngàn

Giữa những buôn làng Tây Nguyên hôm nay, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa lạ. Từ những phiên livestream bán hàng trực tuyến ở cửa hàng vật tư nông nghiệp đến các rẫy cà phê, hồ tiêu, dòng chảy số đang lặng lẽ len vào từng giao dịch thường nhật.
Chuyển đổi số và bước chuyển trong tư duy của ngành Ngân hàng

Chuyển đổi số và bước chuyển trong tư duy của ngành Ngân hàng

Khi mở tài khoản trực tuyến, thanh toán bằng mã QR hay xác thực sinh trắc học đã trở thành những tiện ích quen thuộc, khác biệt giữa các ngân hàng cũng dần thu hẹp. Một tính năng mới hay thêm một quy trình được số hóa không còn dễ tạo dấu ấn như trước. Điều các ngân hàng phải cạnh tranh nhiều hơn giờ đây là chất lượng dịch vụ, tốc độ xử lý và khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Vì vậy, trọng tâm của chuyển đổi số cũng không còn chỉ là mở rộng ứng dụng số, mà chuyển sang khai thác hiệu quả những nền tảng đã được xây dựng để nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động.
Gia cố “lá chắn mềm” trong kỷ nguyên số

Gia cố “lá chắn mềm” trong kỷ nguyên số

Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, giáo dục tài chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để triển khai hiệu quả Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia. Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển nhanh, hiểu biết tài chính không còn là kỹ năng dành riêng cho những người hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng mà đã trở thành năng lực thiết yếu của mỗi công dân, NHNN đã phối hợp với các bộ, ngành và các TCTD ứng dụng công nghệ, số hóa nhiều chương trình đào tạo, truyền thông nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng tài chính cho người dân.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Dấu ấn 5 năm và tầm nhìn  trong kỷ nguyên số

Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Dấu ấn 5 năm và tầm nhìn trong kỷ nguyên số

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc thúc đẩy hệ sinh thái kinh tế số trên các lĩnh vực, ngành Ngân hàng Việt Nam đã và đang chủ động kiến tạo một hệ sinh thái số thông minh, an toàn, minh bạch và bền vững. Nhìn lại hành trình 5 năm qua, với định hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ làm động lực và an ninh, an toàn làm điều kiện tiên quyết, chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số. Trên nền tảng những kết quả đã đạt được, ngành Ngân hàng bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và đổi mới sáng tạo sẽ trở thành những động lực cốt lõi, mở ra một hành trình chuyển đổi số sâu rộng hơn với tinh thần: Dữ liệu dẫn lối - AI đồng hành - Ngân hàng kiến tạo hệ sinh thái số.