Ngành chăn nuôi: Cần điều chỉnh cho phù hợp thị trường

09:10 | 26/12/2019

Giá heo hơi tăng nhanh không chỉ khiến người tiêu dùng phải mua thịt thành phẩm giá cao mà còn khiến các tiểu thương kinh doanh thịt heo gặp nhiều khó khăn do sức mua giảm, người tiêu dùng chuyển sang các loại thực phẩm khác.

Giá lợn hơn cao nhất tới 78.000 đồng/kg
Ngân hàng gỡ khó cho người nuôi lợn bị dịch
Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa

Giá heo hơi tại các trang trại ở khu vực phía Nam lên mức 92.000-95.000 đồng/kg, cao nhất từ trước đến nay. Theo ghi nhận của phóng viên bản báo, hiện giá thịt heo đã tăng 15.000-25.000 đồng/kg tùy loại so với đầu tháng 12. Tại một số siêu thị ở TP.HCM, giá thịt heo hiện ở mức cao. Nạc dăm heo giá 185.000 đồng/kg, thịt đùi heo giá 150.000 đồng/kg, sườn già heo 160.000 đồng/kg. Giá sườn non loại 1 là 280.000 đồng/kg, ba chỉ 250.000 đồng/kg, xương ống 125.000 đồng/kg... Giá heo hơi tăng nhanh không chỉ khiến người tiêu dùng phải mua thịt thành phẩm giá cao mà còn khiến các tiểu thương kinh doanh thịt heo gặp nhiều khó khăn do sức mua giảm, người tiêu dùng chuyển sang các loại thực phẩm khác.

Những biện pháp hiệu quả sẽ dần ổn định thị trường thịt heo

Đại diện của một số công ty chăn nuôi lớn như CP, Emivest, CJ cho biết, nguồn cung cấp heo hơi từ các doanh nghiệp này ra thị trường vẫn ổn định chứ không giảm. Do đó, heo tăng giá chủ yếu do tổng đàn trong các hộ nuôi trang trại hay nhỏ lẻ đã giảm rất mạnh. Điều đáng nói, do giá thịt heo tăng nhanh và mạnh, nhiều chủ trại, hộ chăn nuôi đang tìm cách "găm hàng". Đồng thời, nâng sản lượng thịt heo lên cao bằng cách tăng trọng cho heo từ 120-130kg/con, thậm chí 140kg/con mới xuất chuồng. Vì vậy, dự báo giá thịt heo từ nay đến cuối năm sẽ còn tăng nữa và nhiều khả năng có thể vượt mốc 100.000 đồng/kg.

Theo Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, giá heo hơi và thịt heo bán lẻ thời gian gần đây bị đẩy lên cao gây tâm lý bất an cho người tiêu dùng. Đây là hệ lụy tất yếu của nạn dịch tả heo châu Phi lan tràn trên toàn quốc trong thời gian qua làm giảm tổng đàn heo. Tại Việt Nam, 70% lượng thịt tiêu thụ là thịt heo thì điều này sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nguồn cung, nhất là trong những dịp cao điểm như tết Nguyên đán. Tuy nhiên, để đối phó với tình hình khan hiếm thịt heo và giá cả tăng cao như hiện nay, người tiêu dùng trong nước đang có xu hướng chuyển sang sử dụng một số loại thực phẩm thay thế khác như thịt bò, dê, gà, vịt, cá, trứng...

Trong một diễn biến khác, mới đây Bộ Tài chính đã đưa ra đề xuất giảm mức thuế nhập khẩu một số mặt hàng thịt gà và phụ phẩm sau giết mổ, đông lạnh, thịt lợn tươi hoặc ướp lạnh… Theo đó, mặt hàng thịt gà được Bộ Tài chính đề xuất giảm mức thuế nhập khẩu các mặt hàng thịt gà đã chặt mảnh và phụ phẩm sau giết mổ, đông lạnh từ 20% xuống 18% (Mỹ đề nghị 14,5%). Trong khi đó, thuế suất mặt hàng thịt lợn tươi hoặc ướp lạnh trừ loại thịt cả con và nửa con, trừ thịt mông đùi, thịt vai và các mảnh của chúng từ 25% xuống 22%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong các nhóm hàng nông nghiệp, thịt gà là nhóm Việt Nam thực hiện bảo hộ cao, trong các hiệp định thuế quan hoặc trong quá trình đàm phán, không cam kết cắt giảm hoặc nếu buộc phải cắt giảm sẽ vào giai đoạn cuối cùng khi thực hiện cam kết. Với mức thuế nhập khẩu 20% như hiện nay, giá gà nhập khẩu vẫn thấp hơn so với giá thành người dân sản xuất trong nước.

Một số chuyên gia cho rằng, với mức thuế nhập khẩu mặt hàng heo, gà giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi từ việc giảm giá sản phẩm, khiến cho sinh hoạt phí hàng ngày từ việc mua nhu yếu phẩm giảm theo. Điều này cũng giúp cho người tiêu dùng có thêm sự lựa chọn thay vì chỉ có sản phẩm do DN và thương lái trong nước cung cấp với giá cao như hiện nay. Còn dưới góc độ kinh tế, trong trường hợp thiếu thịt lợn, DN và các hộ sản xuất, chăn nuôi trong nước chưa kịp mở rộng quy mô tái đàn và bù đắp bằng gia tăng sản lượng thì việc “mở cửa” cho heo, bò, dê, gà... nhập khẩu theo đúng các cam kết trong hội nhập là điều tất yếu.

Lúc này thị trường trở nên đa dạng, nhiều sự lựa chọn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần điều chỉnh giá cả phù hợp hơn, người dùng hưởng lợi với mức giá rẻ hơn, hàng hóa phong phú, chất lượng được nâng cao. Tuy nhiên đối với người sản xuất, chăn nuôi, phân phối sản phẩm trong nước cần kịp thời có sự tính toán, điều chỉnh sao cho phù hợp trước những biến động của thị trường trong bối cảnh hội nhập ngày càng cao như hiện nay.

Phương Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.380 23.590 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.385 23.575 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.415 23.600 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.380 23.580 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.450 23.590 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.000
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.000
47.900
Vàng SJC 5c
47.000
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.500