Thị trường lao động: Phục hồi, cơ cấu bền vững hơn

08:55 | 08/10/2022

Cần thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Nâng cao hiệu quả kết nối cung cầu lao động - việc làm, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từ đó cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và tăng năng suất lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI...

thi truong lao dong phuc hoi co cau ben vung hon Đề xuất bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động
thi truong lao dong phuc hoi co cau ben vung hon Trang bị kỹ năng nghề cho lao động trẻ để đáp ứng yêu cầu mới
thi truong lao dong phuc hoi co cau ben vung hon Xuất khẩu lao động hướng tới những thị trường trọng điểm

Theo báo cáo Tình hình lao động việc làm quý III và 9 tháng năm 2022 vừa được Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố ngày 6/10: Thị trường lao động quý III và 9 tháng năm 2022 tiếp tục duy trì đà phục hồi rất tích cực. Tuy nhiên, đời sống một bộ phận người lao động còn gặp nhiều khó khăn do những tác động kéo dài của đại dịch Covid và vẫn còn hiện tượng thiếu hụt lao động cục bộ cùng với chi phí sản xuất cao khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp còn gặp nhiều rủi ro.

Thất nghiệp giảm

Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục đà khởi sắc, thị trường lao động quý III và 9 tháng năm 2022 tiếp tục duy trì đà phục hồi. Lực lượng lao động, số người có việc làm, thu nhập bình quân tháng đều tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước và một trong những điểm đáng mừng nhất trong bối cảnh hiện nay là tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tiếp tục giảm. Cụ thể, về tỷ lệ, số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý III/2022 là 1,92%, giảm 2,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm 9 tháng năm 2022 là 2,29%, giảm 0,77 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III/2022 là 2,28%, giảm 1,70 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp 9 tháng năm 2022 là 2,35%, giảm 0,64 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, nếu nhìn lại diễn biến cùng kỳ của năm 2021 có thể thấy tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm không giảm nhiều. Trong khi đó, đáng lẽ với số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, đồng nghĩa với tạo công ăn việc làm nhiều hơn thì tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm phải giảm mạnh hơn.

thi truong lao dong phuc hoi co cau ben vung hon

Lý giải điều này, bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê dân số và lao động, TCTK cho biết, nhìn vào tỷ lệ thấy không giảm nhiều, nhưng nếu nhìn vào số tuyệt đối, tình hình hoàn toàn khác. “Lao động có việc làm trong độ tuổi 9 tháng năm 2022 là 50,5 triệu người, tăng 1,5 triệu người so với cùng kỳ năm 2021. Trong khi đó, lao động thiếu việc làm giảm 293 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, kinh tế khởi sắc trong 9 tháng qua đã tạo cơ hội có việc làm cho 1,5 triệu lao động, đồng thời giảm tình trạng thiếu việc làm của 293 nghìn lao động”, bà Mai nói và khẳng định, việc doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng 38,6% đã góp phần làm tăng lao động có việc làm chính thức - việc làm bền vững và được bảo vệ.

Cùng quan điểm trên, ông Phạm Hoài Nam - Vụ trưởng Vụ Thống kê dân số và lao động, TCTK cho biết, số lao động có việc làm chính thức 9 tháng đầu năm 2022 là 17,2 triệu người, tăng 1,8 triệu người so với cùng kỳ (trong đó quý III, số người có việc làm chính thức đạt 17,8 triệu người, tăng tới 2,7 triệu người, tương ứng tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước và cũng cao hơn 1,7 triệu người so với cùng kỳ năm 2019). Mức tăng lao động có việc làm chính thức cao hơn cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế không chỉ góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động mà còn giúp nhiều lao động phi chính thức chuyển thành lao động chính thức. “Khi lao động phi chính thức giảm xuống, lao động chính thức tăng lên, cho thấy có sự dịch chuyển từ phi chính thức sang chính thức. Đây là tín hiệu đáng mừng vì thị trường lao động đang phát triển theo hướng bền vững hơn”, ông Phạm Hoài Nam nhận định.

Kỳ vọng tiếp tục phục hồi

Không chỉ lực lượng lao động, số người có việc làm đều tăng mà thu nhập bình quân tháng của người lao động tiếp tục cải thiện. Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý III/2022 là 6,7 triệu đồng, tăng 143 nghìn đồng so với quý trước nhưng tăng tới 30,1% (tương ứng tăng khoảng 1,6 triệu đồng) so với cùng kỳ năm 2021. Trong khi đó nếu so với cùng kỳ năm 2019, trước khi dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam thì thu nhập bình quân của người lao động quý III/2022 tăng 14,5%, tương ứng tăng khoảng 854 nghìn đồng.

Thu nhập bình quân của người lao động 9 tháng năm 2022 là 6,6 triệu đồng, tăng12,4% (tương ứng tăng 727 nghìn đồng) so với cùng kỳ năm 2021 và cũng tăng 11,8% (tương ứng tăng 693 nghìn đồng) so với cùng kỳ năm 2019. Đáng chú ý, cả ba khu vực kinh tế đều ghi nhận thu nhập bình quân của người lao động tăng. Trong đó, thu nhập tăng mạnh nhất ở khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 13,7% so với 9 tháng năm 2021; tiếp đến là khu vực dịch vụ tăng 11,5% và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,6%.

Theo ông Phạm Hoài Nam, với đà phục hồi tích cực, cùng với quý IV là quý nhiều ngày lễ nên tiêu dùng trong nước và trên thế giới kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng mạnh, tạo lực đẩy cho hoạt động sản xuất kinh doanh và giúp tăng nhu cầu tuyển dụng lao động. “Dự kiến thời gian tới, nhu cầu tuyển dụng lao động sẽ tăng lên, qua đó lao động thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp sẽ tiếp tục giảm xuống”, ông Nam kỳ vọng.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, các chuyên gia của TCTK cho rằng, thị trường lao động vẫn đối mặt với một số khó khăn, thách thức. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể còn gặp rủi ro do thiếu hụt lao động cục bộ, cũng như giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cao; trong khi đời sống một bộ phận người lao động còn gặp nhiều khó khăn…

Trước tình hình đó, ông Nguyễn Trung Tiến - Phó Tổng cục trưởng TCTK đề xuất, cần tiếp tục thực hiện nhất quán phương châm “Sống chung an toàn với dịch Covid-19”, nhất là bảo đảm nguồn cung về thuốc, trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm y tế phục vụ khám, chữa bệnh và phòng chống dịch để đáp ứng tốt nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của mỗi người dân, trong đó có người lao động. Bên cạnh đó, cần thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Nâng cao hiệu quả kết nối cung cầu lao động - việc làm, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từ đó cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và tăng năng suất lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Cùng với đó, tập trung ưu tiên cho ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, chú trọng hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người lao động.

Lê Đỗ

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700