09:01 | 05/02/2018

Cẩn trọng với lạm phát

Lạm phát 4% là khả thi nhưng rủi ro lạm phát cao hơn 4% là vẫn có...

Kinh tế tháng đầu năm: “Đầu xuôi đuôi lọt”
Lạm phát cơ bản tháng 1 phản ánh CSTT đang điều hành ổn định

Cẩn trọng không thừa

Nhờ các nỗ lực nhất quán và kiên trì tập trung ổn định KTVM trong nước cùng với bối cảnh khách quan bên ngoài thuận lợi (đặc biệt là giá dầu mỏ và các hàng hóa cơ bản khác ở mức thấp), lạm phát trong hơn 4 năm vừa qua luôn được kiểm soát ở mức thấp và trong mục tiêu đề ra.

Giá dầu tiếp tục xu hướng tăng có thể tạo áp lực tới lạm phát năm nay

Trong bối cảnh giá dầu mỏ tăng mạnh gần đây và những bất ổn bên ngoài gia tăng, cùng với đó là những vấn đề nội tại cần tiếp tục được giải quyết, các chuyên gia cho rằng việc chủ động đối phó với lạm phát là điều cần thiết ngay từ những ngày đầu của năm 2018.

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) trong báo cáo tình hình kinh tế - tài chính năm 2017 và triển vọng năm 2018 cũng nhận định, nếu không có yếu tố đột biến, lạm phát năm 2018 dự báo duy trì ở mức tương đương năm trước (dưới 4%).

Tuy nhiên, cơ quan này nhấn mạnh lạm phát năm 2018 sẽ chịu áp lực chủ yếu từ điều chỉnh giá dịch vụ công và giá thực phẩm, nhất là nếu giá điện tăng mạnh. Cụ thể, cơ quan này ước tính nếu giá điện tăng 8-10% sẽ góp phần làm lạm phát tăng 0,1-0,15 điểm %.

Bên cạnh đó, tăng trưởng GDP cũng là yếu tố có thể tác động đến lạm phát. Với dự báo tăng trưởng GDP năm 2018 có thể đạt khoảng 6,5-6,8%, UBGSTCQG cho rằng: “6,5% là mức tăng trưởng tối ưu không gây áp lực lên lạm phát; tăng trưởng 6,8% là mức có thể đạt được khi các biện pháp kích cầu được áp dụng, nhưng sẽ gây ra áp lực lạm phát cầu kéo cho năm 2018”.

Cũng theo UBGSTCQG, yếu tố giá hàng hóa thế giới sẽ không gây nhiều áp lực lên lạm phát do dự báo giá hàng hóa thế giới năm 2018 sẽ ít biến động so với năm 2017 và giá dầu bình quân dự báo chỉ tăng nhẹ khoảng 6% so với năm 2017. Mặt khác, dù FED dự kiến tiếp tục tăng lãi suất song dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tiếp tục ổn định như năm 2017, vì vậy tác động của yếu tố tỷ giá đến lạm phát cũng sẽ không quá lớn (ước tính nếu tỷ giá USD/VND tăng 1% sẽ làm lạm phát tăng thêm 0,17 điểm %).

Cân nhắc thời điểm điều chỉnh giá dịch vụ công 

Tuy nhiên, diễn biến thị trường thế giới vẫn là một ẩn số. Đơn cử với diễn biến giá dầu mỏ, giá dầu Brent thế giới bình quân tháng 1/2018 đã ở mức sát 70 USD/thùng, tăng gần 8% so tháng 12/2017 và tăng tới gần 60% so với thời điểm tháng 6/2017. Trong quá khứ biến động tăng hay giảm của giá dầu thường có tác động rất lớn đến lạm phát ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, giá nhiều mặt hàng thuộc nhóm nguyên liệu thô tiếp tục đà tăng mạnh. Như chuyên gia Terry Reilly, thuộc công ty môi giới Futures International nhận định gần đây: “Đã kết thúc thời kỳ giá cả các nguyên vật liệu thấp bởi năm 2018, các quỹ đầu tư sẽ hướng đến các loại hàng hóa này, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ”.

Tại Việt Nam, thực tế diễn biến lạm phát tháng 1 vừa qua cũng cho thấy xu thế này. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, với 10/11 nhóm hàng tăng giá, chỉ số CPI tháng 1/2018 đã tăng 0,51% so với tháng trước và tăng tới 2,65% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo TS. Nguyễn Tiến Thỏa, Tổng thư ký Hội Thẩm định giá Việt Nam, mục tiêu kiểm soát CPI năm 2018 ở mức 4% là khả thi. Nhưng để kiểm soát CPI thành công, cần triển khai đồng bộ các giải pháp điều tiết ngay từ đầu năm gắn với việc tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, ổn định KTVM.

Trong đó, một giải pháp “không bao giờ cũ” trong công tác điều tiết giá là đảm bảo đủ nguồn cung hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên cả nước trong mọi tình huống và mọi thời điểm, tránh tình trạng thiếu hàng dẫn đến “sốt giá”.

Trong khi đó theo TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng CIEM, mặc dù triển vọng kinh tế năm nay – trên nền tảng đã tốt của năm 2017 – là tích cực nhưng rủi ro lạm phát cao hơn 4% là vẫn có. Điều này một phần vì dù kinh tế thế giới được nhìn nhận tích cực hơn nhưng cũng còn nhiều rủi ro. Bên cạnh đó tại Việt Nam, lạm phát năm 2018 có thể chịu áp lực từ giá thực phẩm phục hồi (từ sự sụt giảm mạnh trong năm 2017) trong khi tiếp tục có các điều chỉnh về giá dịch vụ y tế, giáo dục, điện…

Báo cáo KTVM mới đây của Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) nhận định, việc cán cân thanh toán tổng thể thặng dư (3,4% GDP) đã giúp NHNN bổ sung lượng dự trữ ngoại hối lớn trong năm 2017. “DTNH cao giúp NHNN có thêm không gian để tiếp tục duy trì nới lỏng tiền tệ, giảm lãi suất, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, điều này tiếp tục đặt ra thách thức cho NHNN trong việc kiểm soát và trung hòa lượng ngoại tệ này nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định KTVM trong thời gian tới”, báo cáo này nhận định. Đi cùng với nhận định này, VEPR dự báo tăng trưởng kinh tế năm nay ở mức 6,65% nhưng lạm phát bình quân cũng có thể cao hơn mục tiêu, ở mức 4,31%.

Trong bối cảnh như vậy, các chuyên gia cho rằng cần rất quyết liệt ngay từ đầu năm để giữ được mục tiêu kiểm soát lạm phát 4% năm nay. Trong đó, một mặt cần chủ động dự báo và có các giải pháp để đối phó với những tác động từ các yếu tố bên ngoài (đặc biệt là giá dầu tăng), mặt khác với thị trường trong nước, cần đặc biệt cân nhắc về thời điểm điều chỉnh giá điện, dịch vụ y tế, giáo dục… cho phù hợp, tránh gây tác động cộng hưởng và tăng giá do tâm lý “té nước theo mưa”.

Cùng với đó, việc phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo mục tiêu tăng cường ổn định KTVM, bảo đảm tăng trưởng kinh tế hợp lý cũng là dù không mới nhưng vẫn luôn quan trọng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350