09:24 | 01/03/2018

Chỉ số PMI tháng 2 tiếp tục tăng nhẹ lên cao nhất 10 tháng

Các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tiếp tục cải thiện mạnh mẽ trong tháng 2. Tốc độ tăng trưởng sản lượng nhanh hơn, đạt mức cao của 10 tháng. Nikkei – IHS Markit đã cho biết như vậy trong Báo cáo khảo sát chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam.

Chính phủ họp thường kỳ tháng 2: Nhiều điểm sáng trong bức tranh KT-XH
Chỉ số giá tiêu dùng tăng mạnh 0,73% trong tháng Tết
Nguồn: Nikkei, IHS Markit

Theo đó chỉ số PMI toàn phần lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đã tăng nhẹ từ mức 53,4 điểm của tháng 1 lên 53,5 điểm trong tháng 2, cho thấy sự cải thiện mạnh mẽ của sức khỏe lĩnh vực sản xuất.

“Các điều kiện kinh doanh đã liên tục cải thiện kể từ tháng 12/2015. Tốc độ tăng trưởng sản lượng ngành sản xuất trong tháng 2 đã đạt mức cao của 10 tháng khi các thành viên nhóm khảo sát báo cáo nhu cầu khách hàng tăng”, Báo cáo cho biết.

Theo đó, số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng trong suốt 27 tháng qua, với số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tăng mạnh trong tháng 2. Kéo theo đó, việc làm tiếp tục tăng mạnh trong tháng 2, mặc dù tốc độ tạo thêm việc làm chậm lại so với tháng 1. Ở những nơi tăng việc làm, nguyên nhân chủ yếu được cho là do yêu cầu sản xuất tăng lên.

Cùng với tăng việc làm, các công ty cũng tăng hoạt động mua hàng để hỗ trợ tăng trưởng sản lượng và tăng hàng tồn kho. Hoạt động mua hàng hóa đầu vào tăng làm tồn kho hàng mua tăng mạnh, mức tăng đáng kể nhất trong một năm.

Trong khi đó, hàng tồn kho thành phẩm đã giảm nhưng ở mức nhẹ, là mức yếu nhất trong chuỗi giảm kéo dài 8 tháng hiện nay.

Một điểm đáng lưu ý là chi phí đầu vào tiếp tục tăng mạnh trong tháng 2, và tốc độ lạm phát chỉ chậm hơn một chút so với mức cao của 81 tháng trong tháng 1. Các thành viên nhóm khảo sát cho rằng giá cả đầu vào tăng chủ yếu là do chi phí nguyên vật liệu tăng. Có một số báo cáo cho thấy các nhà cung cấp đã tăng giá bán khi nhu cầu hàng hóa đầu vào tăng.

Vì giá cả đầu vào tiếp tục tăng, các nhà sản xuất đã tăng giá cả đầu ra tương ứng. Giá bán hàng đã tăng trong 6 tháng liên tiếp, với mức tăng gần đây nhất chỉ chậm hơn một chút so với đầu năm.

Đáng chú ý, các nhà sản xuất Việt Nam vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới phù hợp với các kế hoạch phát triển của công ty. Tuy nhiên, mức độ lạc quan đã giảm đi thành mức thấp nhất kể từ tháng 6 năm ngoái.

Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam, Andrew Harker - Phó Giám đốc IHS Markit (công ty thu thập kết quả khảo sát) cho biết, lĩnh vực sản xuất của Việt Nam trong tháng 2 tiếp tục tăng trưởng mạnh vào đầu năm, với một số chỉ số khảo sát báo hiệu sản lượng đã lấy lại đà tăng. Sản lượng tăng nhanh nhất trong thời gian 10 tháng, trong khi hoạt động mua hàng đã tăng mạnh nhất kể từ cuối năm 2016 khi các công ty cho biết đã cố gắng tăng hàng tồn kho.

“Điều này cho thấy các nhà sản xuất lạc quan về triển vọng nhu cầu khách hàng trong ngắn hạn, trong khi kỳ vọng sản lượng cũng thể hiện thái độ tích cực trong kinh doanh”, vị chuyên gia này nhấn mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.255 23.345 26.117 26.587 29.984 29.448 199,16 206,20
BIDV 23.240 23.330 26.221 26.584 29.068 29.528 202,74 206,23
VietinBank 23.251 23.351 26.072 26.577 28.926 29.486 202,86 206,61
Agribank 23.230 23.320 26.239 26.591 29.105 29.545 20279 206,28
Eximbank 23.240 23.340 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.260 23.340 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.262 23.354 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.235 23.345 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.260 23.340 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580