15:50 | 04/05/2018

Chuẩn bị cho giai đoạn “chạy nước rút”

Nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế là yêu cầu cấp bách cần đặt ra...

Đến 15/4 ngân sách ước bội thu 11,3 nghìn tỷ đồng
Kế hoạch năm 2019: Bảo đảm tăng trưởng cao hơn

Mặc dù mới đi qua 1/3 chặng đường của năm 2018 với kết quả khá tích cực, nhưng tại dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chắp bút, đã nhấn mạnh năm 2019 là năm “nước rút”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020.

Không chỉ giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2018, dự thảo đặt mục tiêu nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế.

Cần thúc đẩy vai trò của khu vực kinh tế trong nước đối với tăng trưởng

Tạo đà cho các năm tiếp theo

Trước đó vài ngày, tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ, Chính phủ thống nhất mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt tối thiểu 6,7% và quyết tâm phấn đấu đạt cao hơn để tạo đà cho năm 2019 và các năm tiếp theo. Như vậy, có thể hiểu rằng mục tiêu tăng trưởng phấn đấu cho năm 2019 sẽ cao hơn mức 6,7% của năm 2018.

Cũng cần nhắc lại rằng, ngay từ những tháng đầu năm, Chính phủ đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần thường xuyên bám sát tình hình thực tế, cập nhật kịch bản tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm; thường xuyên rà soát, xác định khả năng thực hiện kịch bản để có các giải pháp phù hợp; coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của từng Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Qua đó thấy rằng, việc phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng vẫn là nhiệm vụ quan tâm hàng đầu của Chính phủ.

Nhìn xa hơn, Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng đã dự báo triển vọng tăng trưởng kinh tế bình quân trong 3 năm tới, từ 2018-2020, đạt mức 6,85%. Mặc dù đây không phải là mức cao nhất trong 3 kịch bản được đưa ra, song có thể nói là mức vừa sức và khả thi nhất, bởi theo TS. Vũ Viết Ngoạn, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, các động lực tăng trưởng hiện nay khó duy trì tính bền vững. Ông Ngoạn đề xuất cần tạo động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy tăng năng suất lao động nội ngành, như vậy mới đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2016-2020.

Nhìn nhận lạc quan về các kịch bản tăng trưởng mà Chính phủ đặt ra, TS. Võ Trí Thành, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đánh giá, mục tiêu tăng trưởng 6,5-7% trong giai đoạn 5 năm (2016-2020) là khả thi. Mặc dù vậy, nếu nhìn dài hạn hơn và để thu hẹp khoảng cách phát triển, bên cạnh tốc độ tăng trưởng thì điều quan trọng hơn là phải tạo ra được những nền tảng tốt để nền kinh tế chuyển biến mạnh mẽ và vững chắc.

“Nếu không thì không thể chuyển được từ mức thu nhập trung bình thấp sang trung bình cao trong khoảng 15 năm, cùng với đó là vượt bẫy thu nhập trung bình”, ông Thành chỉ ra mục tiêu cụ thể.

Tiếp tục bồi đắp nền tảng

TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh, để tạo được nền tảng vững chắc hơn cho nền kinh tế, yêu cầu cần được chú trọng hơn cả trong dự thảo Chỉ thị của Chính phủ là nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Đó là thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế và cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực. Ông Thành liệt kê ra một loạt các lĩnh vực quan trọng gồm tái cấu trúc đầu tư công, DNNN, hệ thống TCTD; nâng cao năng suất lao động; hoàn thiện kết cấu hạ tầng; cải thiện môi trường kinh doanh… Những công việc này hiện đều đang dở dang.

Ông dẫn chứng, giai đoạn 2014-2018, Nghị quyết 19 của Chính phủ liên tục đặt ra các chỉ số mục tiêu của môi trường kinh doanh vượt mức trung bình ASEAN, nhưng tới nay chúng ta vẫn chưa cán đích đó. “Để đạt được mục tiêu này, tạo nền tảng vững chắc cho môi trường đầu tư thì giai đoạn 2018-2020 đúng nghĩa là nước rút”, ông Thành khuyến nghị.

TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đặt vấn đề cần phân tích kỹ lưỡng xem khu vực DN nào đang tạo nên tăng trưởng. Nếu tăng trưởng những năm vừa qua chủ yếu là nhờ khối FDI, vậy khi tách khu vực này ra thì từ năm 2011 đến nay nền kinh tế trong nước chuyển đổi như thế nào. Bên cạnh chính sách thu hút FDI thành công, phải nhìn thẳng vào thực trạng là đối với khối DN trong nước bao gồm cả DN tư nhân và DNNN thì từ năm 2011 đến nay đã làm được gì để phát triển kinh tế.

Ông Kiên chỉ ra vấn đề, hiện nay gần 70% đăng ký mới hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại, chỉ có 19% trong chế biến chế tạo. “Với một nền kinh tế như Việt Nam, nếu chỉ có 19% DN thành lập mới hoạt động trong chế biến chế tạo, liệu có tạo đà bứt lên được không?”, ông phân tích và “đặt hàng” chính sách phát triển khu vực này.

Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Đức Kiên cũng lưu ý một vấn đề khác cần quan tâm là xem xét lại việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tập trung nguồn lực đầu tư các công trình lớn, thiết yếu, lan toả phát triển giữa các ngành, lĩnh vực, vùng miền.

“Tại sao không đầu tư vào đường sắt trong khi hội nghị mới nhất của tổ chức đường sắt chỉ ra rằng phải chạy đường sắt chở container từ Việt Nam sang châu Âu và ngược lại để rẻ hơn đường thuỷ? Tại sao không làm cao tốc kết nối với các khu vực sâu trong ASEAN, kết nối giữa các tỉnh thành trong các vùng kinh tế trọng điểm, thay vì tiếp tục kết nối dọc tuyến Bắc-Nam như hiện nay”, ông Kiên chỉ ra thực trạng.

Sức ép thay đổi từ bên trong càng lớn hơn bởi từ bên ngoài, tình hình quốc tế năm 2019 sẽ tiếp tục biến động phức tạp, khó lường và chứa đựng nhiều rủi ro, nhất là các yếu tố bất định từ những điều chỉnh chính sách của Mỹ, kéo theo điều chỉnh chính sách của nhiều nước.

Sự bất ổn này dẫn tới các nguy cơ chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế chủ chốt, sự gia tăng cạnh tranh về kinh tế, tài chính, bảo hộ thương mại giữa các nước, xu hướng tăng lãi suất, thắt chặt tiền tệ của các quốc gia... Do vậy, tăng khả năng chống chịu là cách tốt nhất để nền kinh tế Việt Nam có thể dễ dàng vượt qua các cú sốc đó.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350