10:31 | 26/06/2019

Đưa logistics Việt thành ngành kinh tế mũi nhọn

Với vị trí địa lý đắc địa, Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành logistics phát triển. Nhưng để đạt kỳ vọng, vẫn còn nhiều rào cản cần tháo gỡ.

Chưa khai thác tốt lợi thế để phát triển dịch vụ
Logistics và bài toán thương mại điện tử
Vẫn phải chờ các trung tâm logistics

Triển vọng…

Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, cho biết, nằm ở trung tâm khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trên tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi để phát triển dịch vụ logistics. Đối với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cũng nằm ở vị trí trung tâm. Nếu lấy TP. Hồ Chí Minh làm tâm, vẽ một vòng tròn thì gần như toàn bộ khu vực nằm trọn trong vòng tròn ấy.

Bên cạnh đó, với bờ biển dài khoảng 3.260 km trải dài từ Bắc đến Nam, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để đưa hàng hóa xuất nhập khẩu đến với thế giới. Không chỉ hàng hóa của chính mình sản xuất, Việt Nam cũng là điểm đến lý tưởng để tiến hành các hoạt động trung chuyển như quá cảnh, tạm nhập tái xuất… Cùng với tiến trình mở cửa và hội nhập, lượng hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước và xuất nhập khẩu những năm qua tăng trưởng mạnh mẽ, là tiền đề thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics.

Với bờ biển dài, Việt Nam có nhiều lợi thế trong việc phát triển logistics

Logistics đang trở thành ngành dịch vụ quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế và thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng kinh tế. Trong thời gian qua, ngành dịch vụ logistics Việt Nam đã có bước phát triển nhanh và mạnh với tốc độ phát triển lên đến 13 - 15%. “Đây là một trong những ngành có tiềm năng rất lớn và có vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ các ngành kinh tế, các ngành sản xuất khác nhau và hoạt động thương mại xuất nhập khẩu”, ông Trần Thanh Hải cho hay.

Cùng nhận định này, ông Nguyễn Tương - Phó Tổng thư ký Hiệp hội DN dịch vụ logistics Việt Nam cho biết, báo cáo điều tra về chỉ số hoạt động logistics (LPI) năm 2018 của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố, Việt Nam được xếp hạng 39/160 nước điều tra, tăng 25 bậc so với xếp hạng 64 của năm 2016 và vươn lên đứng thứ 3 trong các nước ASEAN. Việt Nam cũng là nước xếp ở top đầu trong số các thị trường mới nổi. Đây là kết quả tốt nhất mà Việt Nam có được kể từ khi WB thực hiện việc xếp hạng LPI kể từ năm 2007 đến nay.

“Hiện Việt Nam đang phấn đấu tiếp tục tăng lên 5 - 10 bậc, tức là ở thứ hạng 30, ngang bằng với các nước phát triển”, ông Nguyễn Tương nói và cho rằng, việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay EVFTA với những ưu đãi thuế quan sẽ thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng và khi đó sản xuất sẽ tăng và tạo ra nguồn hàng lớn. Đây chính là cơ hội “vàng” cho ngành logistics Việt Nam tăng trưởng và ngược lại logistics phát triển sẽ là đòn bẩy cho xuất nhập khẩu.

Và những điểm nghẽn cần hóa giải

Theo số liệu của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, hiện Việt Nam có khoảng 4.000 DN hoạt động trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam; trong đó, loại hình DNNN chiếm 20%, tư nhân 10%, TNHH 20%. Quy mô về vốn khoảng 40-42 tỷ USD/năm, chiếm gần 21% GDP của cả nước.

Lý giải về yếu tố tạo nên sự thay đổi lớn của ngành logistics trong thời gian qua, ông Trần Thanh Hải cho rằng, nếu cách đây 3, 4 năm chúng ta còn ít nghe tới câu chuyện logistics; nhưng hiện nay, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành rất quan tâm đến vấn đề này và đã thể hiện thành các văn bản pháp luật. Điều này có thể nhìn thấy từ Quyết định số 200/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. “Một kế hoạch hành động bám sát thực tế, có mục tiêu cụ thể và được triển khai nghiêm túc sẽ không chỉ giúp cải thiện năng lực cạnh tranh của dịch vụ logistics Việt Nam trong thời gian tới mà còn giúp cho ngành logistics phát triển bền vững”, ông Trần Thanh Hải nói.

Song để phát triển nhanh và bền vững, ngành logistics Việt còn không ít điểm nghẽn cần tháo gỡ để thúc đẩy phát triển. Trước hết là vấn đề hạ tầng. Mặc dù Việt Nam đã có cải tiến nhiều về hạ tầng cho logistics, đặc biệt là về hạ tầng đường bộ, hàng không, song còn thiếu sự kết nối giữa các phương tiện, các hình thức giao thông vận tải, nhất là thiếu sự kết nối giữa đường bộ với các hình thức đường biển, đường sắt. Bên cạnh đó, chi phí logistics trong lĩnh vực về vận chuyển hiện nay còn khá cao do khối lượng lớn hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ. Trong khi đó, việc cắt giảm chi phí logistics hiện nay còn rất khó khăn khi chưa khai thác và đẩy mạnh được các phương tiện đường thủy, đường sắt.

Điểm nghẽn tiếp theo chính là năng lực cạnh tranh của các DN logistics còn yếu. Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, hiện chúng ta có khoảng 4.000 DN hoạt động trong lĩnh vực logistics, chủ yếu là DNNVV. Bên cạnh yếu tố về vốn, điểm yếu của DN còn là về kinh nghiệm, kỹ năng. DN logistics Việt Nam chưa có điều kiện vươn ra thị trường quốc tế để khảo sát nhiều. Điều này khiến cho DN bị thua thiệt trong cạnh tranh. Ngoài ra, sự liên kết đồng bộ giữa các DN cung cấp các công đoạn khác nhau của dịch vụ logistics còn khá kém. Ví dụ, có DN cũng cấp dịch vụ kho, có DN cung cấp dịch vụ vận tải, hỗ trợ… Tuy nhiên, các dịch vụ đó chưa liên kết xâu chuỗi. Đây là điểm yếu của DN Việt Nam so với DN nước ngoài.

Về vấn đề thị trường, Việt Nam có lợi thế nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, bờ biển dài có thể làm dịch vụ trung chuyển hàng hóa cho các nước láng giềng. Tuy nhiên, hiện nay điều đó chưa được đẩy mạnh để khai thác tốt.

Ngoài ra, điểm yếu nổi cộm của ngành logistics hiện nay còn là ứng dụng công nghệ trong thời đại công nghiệp 4.0. Mặc dù một số trung tâm logistics đã có ứng dụng công nghệ nhưng tự động hóa trình độ cao thì chưa có. Đây là điểm phải khắc phục trong thời gian tới…

Quả vậy, theo các chuyên gia, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 với các công nghệ ưu việt, mang tính đột phá về trí tuệ nhân tạo, rô bốt, không gian mạng, kết nối vạn vật, dịch vụ internet… đã tác động toàn diện tới con người, quy trình và công nghệ ứng dụng trong logistics và chuỗi cung ứng.

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các DN cung cấp dịch vụ logistics, được xem như huyết mạch kết nối các thành phần của toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics. Cụ thể, công nghệ có thể giúp cải thiện tình hình kiểm soát và lên kế hoạch dễ dàng hơn 70,1%, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 70,1%; giảm thiệt lỗi do con người gây ra 67%, giảm chi phí nhân lực trong quản lý là 61,9%; cải thiện quan hệ khách hàng là 60,8% và giảm thiểu chi phí là 57,7%.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850