14:00 | 11/01/2017

Hướng tới đích trên 30 tỷ USD

Tình hình thị trường năm 2017 cũng giống như năm 2016, hoặc có thể sáng hơn một chút khi kinh tế Mỹ có chiều hướng tăng trưởng tốt hơn. Chính vì vậy, ngành dệt may đặt kế hoạch tăng trưởng năm 2017 là 6,5-7%, đạt trên 30 tỷ USD.

Ngành dệt may Việt Nam: Nỗ lực vượt khó
Ưu thế nhân công rẻ đã lỗi thời
Nâng tầm thương hiệu Việt

Ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Vinatex cho biết, năm 2016, sản xuất và xuất khẩu dệt may vẫn tiếp tục tăng, tuy nhiên ở mức thấp hơn so với năm 2015. Sản xuất vải dệt từ sợi bông, sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo ước đạt 1.027 triệu m2, tăng 4% và bằng 96% kế hoạch năm; sản xuất quần áo mặc thường ước đạt 3.435 triệu cái, tăng 6,2% so với năm 2015 và bằng 97,3% kế hoạch năm.

Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dệt may ước đạt 28,5 tỷ USD, tăng 5,6% so với năm 2015, tuy nhiên vẫn thấp hơn 1,5 tỷ USD so với dự kiến, hoàn thành 92% kế hoạch xuất khẩu. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc đạt 23,6 tỷ USD, tăng 3,3%; xuất khẩu xơ sợi ước đạt 2,9 tỷ USD, tăng 14,1%...

“Tình hình thị trường năm 2017 cũng giống như năm 2016, hoặc có thể sáng hơn một chút khi kinh tế Mỹ có chiều hướng tăng trưởng tốt hơn. Chính vì vậy, ngành dệt may đặt kế hoạch tăng trưởng năm 2017 là 6,5-7%, đạt trên 30 tỷ USD”, ông Lê Tiến Trường cho biết.

Lý giải về nguyên nhân tăng trưởng thấp, ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết, là do sự sụt giảm của cầu thế giới từ các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản và Việt Nam bị cạnh tranh từ các nền kinh tế mới nổi như Campuchia, Bangladesh, Pakistan... Tuy nhiên, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng 5,2% trong năm 2016, là nước có mức tăng trưởng cao nhất trong 7 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới.

Lý giải về kết quả này, ông Lê Tiến Trường cho biết, giải pháp mà cộng đồng DN áp dụng là tiếp tục tập trung nâng cao năng suất, rút ngắn thời gian giao hàng cũng như hoàn thiện chuỗi cung ứng trong nước để tiếp cận được các thị trường khó tính hơn, thực hiện các đơn hàng nhỏ lẻ hơn.

Cùng với đó, sự ổn định kinh tế vĩ mô và cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ thực hiện trong năm 2016 cũng có tác động tích cực, đối với các nhà nhập khẩu.

Đặc biệt là các cải cách ở Bộ Tài chính, Công Thương, ngành Thuế, ngành Hải quan… đã giúp cho thời gian thực hiện dịch vụ công được rút ngắn. Với ngành thời trang, thời gian giao hàng là yếu tố cốt lõi, nên điều này sẽ là sự hỗ trợ lớn cho các DN trong những năm tới.

Năm 2017, các chuyên gia kinh tế dự báo Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ rất khó được Mỹ thông qua, bên cạnh đó sự kiện Brexit cũng tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của ngành dệt may. Có thể ngành dệt may sẽ khó đạt mục tiêu trong năm 2017. Tuy nhiên, ngành này vẫn đặt kế hoạch tăng trưởng năm 2017 là 6,5-7%, với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 30 tỷ USD.

Ông Lê Tiến Trường cho rằng, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU và một số hiệp định khác được đánh giá sẽ mang lại thuận lợi cho ngành dệt may. Trong đó, quy mô thị trường EU lên tới 200 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may mỗi năm. Tuy nhiên, năm 2017, hiệp định với EU chưa có hiệu lực. Đây là khu vực ngành dệt may kỳ vọng có sự tăng trưởng từ năm 2018.

Đối với các hiệp định khác, do quy mô thị trường nhỏ hơn nên tác động chung lên ngành xuất khẩu dệt may trong thời gian tới là không nhiều. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội mới cho các DNNVV tìm kiếm cơ hội.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.840 22.910 26.457 26.773 29.979 30.459 205,20 210,58
BIDV 22.860 22.930 26.560 26.795 30.221 30.486 208,01 209,89
VietinBank 22.849 22.929 26.421 26.799 29.958 30.518 206,63 210,03
Agribank 22.835 22.915 26.473 26.793 30.035 30.456 206,57 209,78
Eximbank 22.840 22.930 26.480 26.824 30.112 30.503 207,20 209,90
ACB 22.850 22.930 26.476 26.819 30.204 30.519 207,44 210,13
Sacombank 22.865 22.948 26.527 26.888 30.200 30.563 207,51 210,56
Techcombank 22.820 22.920 26.206 26.913 29.767 30.590 205,79 211,50
LienVietPostBank 22.820 22.920 26.412 26.876 30.137 30.555 206,54 210,29
DongA Bank 22.860 22.930 26.450 26.850 30.090 30.570 204,70 209,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.790
36.980
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.790
36.960
Vàng SJC 5c
36.790
36.980
Vàng nhẫn 9999
35.690
36.090
Vàng nữ trang 9999
35.340
36.040