09:25 | 12/09/2019

Không để tình trạng trục lợi, giả danh gỗ Việt để xuất khẩu

Ngày 11/9, hội nghị đánh giá tình hình chế biến, xuất khẩu gỗ, lâm sản những tháng đầu năm 2019 và các giải pháp thúc đẩy chế biến, xuất khẩu gỗ, lâm sản trong thời gian tới  đã diễn ra tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT).

Chống gian lận xuất xứ ngày càng cam go
Thiếu nguyên liệu làm khó ngành gỗ
Ngành gỗ xuất khẩu: Doanh nghiệp nội vẫn chịu lép vế
Ngành gỗ: Cơ hội lớn, thách thức nhiều
Ảnh minh họa

Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp, cả nước hiện nay có 5.424 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản, trong có đó 612 doanh nghiệp FDI, chiếm 11,3% tổng số doanh nghiệp và 4.812 doanh nghiệp trong nước, chiếm 88,7% tổng số doanh nghiệp.

Trong 7 tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã xuất khẩu gỗ và lâm sản đến hơn 128 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Hàn Quốc là những thị trường xuất khẩu chủ yếu, đạt 5,3 tỷ USD, chiếm 87,7% giá trị xuất khẩu lâm sản.

Về thị trường nhập khẩu, Việt Nam đã nhập khẩu từ 96 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, Trung Quốc, Mỹ, Cameroon, Chi Lê, Thái Lan là 5 thị phần có giá trị nhập khẩu lớn của Việt Nam, đạt 757,6 triệu USD, chiếm 52% giá trị nhập khẩu.

Hiện nay, thị trường Mỹ với các mặt hàng gỗ từ các quốc gia khác và từ Việt Nam có thể sẽ tăng lên để bù đắp vào phần thiếu hụt hàng hóa do thuế tăng cao từ thị trường Trung Quốc.

Từ khi Hiệp định đối tác tự nguyện giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu về thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) có hiệu lực từ ngày 1/6/2019, các hoạt động thương mại gỗ và sản phẩm gỗ được thúc đẩy tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu lâm sản vào EU cũng như thị trường khác.

Với những diễn biến trên, Việt Nam có nhiều cơ hội đón nhận nguồn vốn đầu tư FDI dịch chuyển khỏi Trung Quốc do Việt Nam có các lợi thế về cơ chế chính sách thông thoáng, nhân công giá rẻ, hệ thống giao thông, cảng biển nước sâu thuận lợi.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi ngành sẽ đối mặt với một số khó khăn như việc kiểm soát chất lượng của các dự án FDI, nguy cơ về tiếp nhận các dự án có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, không đảm bảo các yêu cầu về môi trường.

Đặc biệt là tiềm ẩn nguy cơ gian lân thương mại, giả xuất xứ hàng hóa để lợi dụng thuế nhập khẩu thấp hơn từ Việt Nam so với từ Trung Quốc sang Mỹ.

Thâm hụt thương mại giữa Mỹ và Việt Nam ngày càng lớn trong ngành gỗ có thể dẫn đến Chính phủ Mỹ áp đặt chính sách thương mại công bằng dẫn đến thua thiệt cho ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.

Hiện nay, mặt hàng ván dán đang nghi ngờ có hành vi gian lận thương mại khi xuất khẩu sang Mỹ, vì vậy cần quan tâm và có sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đến quá trình sản xuất, chế biến và xuất khẩu mặt hàng ván dán từ Việt Nam và Mỹ.

Thay đổi thói quen, thị hiếu của người tiêu dùng các sản phẩm gỗ đã xuất hiện tại một số thị trường.

Về những vướng mắc, khó khăn còn tồn đọng, đại diện các Hiệp hội, doanh nghiệp về gỗ và các sản phẩm gỗ cho rằng hiện nay các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong thủ tục xin và cấp đất để mở rộng quy mô trồng rừng và doanh nghiệp; Thu mua nguyên liệu mà nguyên nhân chính là do thương lái trên thị trường thu mua mạnh mẽ để xuất đi nước ngoài dưới dạng nguyên liệu thô.

Nguyên nhân một phần do nhiều nước trong khu vực đã có chính sách thắt chặt nguồn nguyên liệu từ rừng, như Lào, Capuchia, Myanmar, Ấn Độ, Trung Quốc... dẫn đến tình trạng thiếu hụt gỗ nguyên liệu trong khu vực một cách rõ rệt, làm gia tăng áp lực cạnh tranh gỗ nguyên liệu đầu vào tại các nước có ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển.

Hiệp hội và doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ các cấp Bộ, ngành nhà nước quan tâm hơn nữa đến các cơ chế chính sách thủ tục xin cấp phép, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp gỗ Việt Nam được tiếp cận được công nghệ tiên tiến của EU thay thế cho những công nghệ cũ, lạc hậu, đặc biệt có kế hoạch cụ thể để triển khai khâu thiết kế sản phẩm và xây dựng thương hiệu sản phẩm gỗ Việt Nam.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh cần rà soát lại kỹ tăng trưởng thành phẩm, những nhận thức để có biện pháp phối hợp, không để tình trạng trục lợi, giả danh truy xuất nguồn gốc.

Hiệp hội Gỗ và Lâm sản cần nêu cao vai trò của mình, đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý với Chính phủ để bảo đảm quyền lợi và tính bền vững của ngành.

Với tầm chiến lược lớn, các doanh nghiệp cần liên kết lại để khai thác tốt nguồn lợi, tích cực quản lý rừng bền vững. Các doanh nghiệp phải mạnh mẽ truyền thông, đẩy mạnh tổ chức các diễn đàn, hội nghị, hội chợ để quảng bá và phát triển ngành.

Tổng kết hội nghị, Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn lạc quan về mục tiêu Chính phủ đặt ra cho ngành gỗ và lâm sản là xuất khẩu đạt 11 tỷ USD trong năm 2019 là có khả thi. 

Năm nay ngành gỗ có nhiều thuận lợi từ các chính sách mở cửa từ Chính phủ, từ các ký kết Hiệp định thương mại, Thứ trưởng nhấn mạnh cần tận dụng để phát triển đột phá cho kinh tế của cả nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi sẽ là những khó khăn không phải dễ dàng đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức thận trọng trong việc thực hiện các chính sách cho đúng, kiểm soát chặt chẽ việc cấp giấy, tránh việc gian lận thương mại, tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm. 

Đồng thời, kịp thời phát hiện và thông báo đến cơ quan quản lý nhà nước để xử lý kịp thời các hành vi gian lận thương mại.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850