16:00 | 30/03/2018

Thêm “ngưỡng” để cảnh báo nợ công

Một trong những điểm mới của Luật Quản lý nợ công năm 2017 là khái niệm “ngưỡng cảnh báo về nợ công” được quy định tại Điều 21 của luật.

Đến 15/3, ngân sách bội thu 6,3 nghìn tỷ đồng
Bản lĩnh trước những khoản vay
Cần sớm thành lập Ủy ban giám sát về đầu tư công

Từ ngày 1/7 tới, khái niệm mới “ngưỡng quản lý nợ công” chính thức có hiệu lực, ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại của Bộ Tài chính cho biết. Đây là một trong những điểm mới tại Luật Quản lý nợ công 2017.

Cần có những quy định cụ thể về ngưỡng cảnh báo nợ công

Luật Quản lý nợ công 2017 được kỳ vọng sẽ làm hạ nhiệt nợ công khi gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với trách nhiệm quản lý huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ công. Ngoài các quy định về chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công (QLNC) 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ công hàng năm, hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm, hàng năm và hạn mức cho vay lại hàng năm thì Luật Quản lý nợ công có điểm rất mới là ngưỡng cảnh báo nợ công.

Để hướng dẫn Luật Quản lý nợ công, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự thảo 6 Nghị định, hướng dẫn chi tiết các nội dung về: nghiệp vụ quản lý nợ công; về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết các công cụ nợ của Chính phủ, về cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, về cấp và quản lý bảo lãnh của Chính phủ; về quản lý Quỹ tích lũy trả nợ và về quản lý nợ của chính quyền địa phương.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng 1 Nghị định liên quan tới quản lý vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài. Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công, có 3 nội dung cơ bản. Đầu tiên là hướng dẫn thực hiện các công cụ quản lý nợ. Theo đó, phải soát xét để hướng dẫn xây dựng, thực hiện các nội dung kế hoạch nợ công 5 năm, 3 năm, hàng năm cho khớp với kế hoạch 5 năm, 3 năm và hàng năm về tài chính ngân sách và từ đó khớp nối với đầu tư công trung hạn, 3 năm và hàng năm.

Ông Trương Hùng Long cho biết, nội dung Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công có những nội dung cơ bản. Thứ nhất là công cụ, quản lý nợ là nghiệp vụ mới. Nội dung này đang có sự phân vân của các địa phương. Chúng ta phải soát xét lại nội dung kế hoạch nợ công 3 năm, 5 năm, hàng năm khớp với kế hoạch 3 năm, 5 năm và hàng năm từ đó khớp nối với đầu tư công trung hạn 3 năm, 5 năm và hàng năm.

Thứ hai là trần nợ và giới hạn nợ. Tức là khi nào cần cảnh báo và áp dụng các biện pháp. Có phải các chỉ tiêu xảy ra cùng lúc thì mới áp dụng cảnh báo không, hay là ngưỡng chạm cảnh báo và biện pháp nào tương ứng với từng nội dung cũng cần phải làm rõ. Như vậy, nghị định cần phải làm rõ các kịch bản có thể xảy ra, áp dụng biện pháp nào trong trường hợp nào... cần cụ thể hóa.

Bên cạnh đó là trần nợ và giới hạn cảnh báo nợ cũng là nội dung quan trọng. Tức là khi nào cần cảnh báo, áp dụng các biện pháp tài chính, ngân sách và đầu tư để đảm bảo kiểm soát được mức giới hạn an toàn nợ.

Vì vậy, cần phải làm rõ là có phải các chỉ tiêu xảy ra cùng lúc thì mới áp dụng cảnh báo không. Hay là chỉ một hay một số chỉ tiêu an toàn nợ chạm ngưỡng chạm cảnh báo là phải sớm có biện pháp phòng ngừa chủ động và biện pháp nào tương ứng với từng nội dung chỉ tiêu an toàn nợ nào cũng cần phải làm rõ. Như vậy, nghị định cũng cần phải làm rõ các kịch bản có thể xảy ra, áp dụng biện pháp nào trong trường hợp nào là cần cụ thể.

Theo ông Trương Hùng Long một trong những điểm mới của Luật Quản lý nợ công năm 2017 là khái niệm “ngưỡng cảnh báo về nợ công” được quy định tại Điều 21 của luật. Các nước phát triển và các nước trong khu vực cũng sử dụng ngưỡng cảnh báo. Ngưỡng là như thế nào? Là trước khi chạm trần nợ công sẽ có ngưỡng cảnh báo báo động đỏ tình trạng vay của chúng ta. Từ đó có biện pháp kiểm soát lại nguồn vay nợ.

Cùng khái niệm trần nợ công đã có trước đây, luật bổ sung thêm khái niệm “ngưỡng cảnh báo về nợ công” để cảnh báo khi mức nợ công tiến gần đến mức trần nhằm chủ động thực hiện các các biện pháp để xử lý, kiểm soát, đảm bảo giới hạn mức trần nợ công được Quốc hội quyết định.

Đây cũng là thông lệ quốc tế mà Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 đã tiếp cận để thể chế hóa khi đưa vào thực hiện. Theo đó, trần nợ công và ngưỡng nợ công do Quốc hội quyết định theo từng thời kỳ 5 năm cùng với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm và kế hoạch tài chính 5 năm. 

“Về mặt bản chất, ngưỡng là để đưa ra các biện pháp để kiểm soát. Khi nợ đến ngưỡng, chúng ta phải kiểm soát các nhu cầu về vay nợ, đồng nghĩa với việc phải kiểm soát bội chi cũng như hạn mức cho vay lại và hạn mức về bảo lãnh Chính phủ. Điều này nhằm đảm bảo giảm tốc độ gia tăng nợ công, kiểm soát để nợ công không tiến sát đến trần đã được Quốc hội quyết định”, ông Trương Hùng Long nói.

Với Việt Nam, trần nợ công là 65% GDP. Vậy cụ thể có những ngưỡng mức cảnh báo nào? Ông Long cho biết, hiện nay chúng ta vẫn đang theo luật cũ là trần nợ công ở mức 65%. Năm 2017 nợ đã ở mức 61,3% tức là vẫn trong ngưỡng kiểm soát. Thời gian tới đây, khi có nghị định hướng dẫn và Luật Quản lý nợ công 2017 được thực thi thì chắc chắn rằng năm 2018 bàn đến mức nào sẽ có mức ngưỡng cảnh báo phù hợp.

“Trong giai đoạn 2016 – 2020, Quốc hội đã quyết định mức trần nợ công ở mức 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 55% GDP. Năm 2017 ước nợ công ở mức 61,3% tức là vẫn trong phạm vi kiểm soát. Tới đây, khi các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Quản lý nợ công được ban hành thì sẽ phải thảo luận mức ngưỡng cảnh báo nợ công nào là hợp lý”, ông Trương Hùng Long nói.

Luật Quản lý nợ công năm 2017 ra đời nhằm tạo khuôn khổ pháp lý phù hợp với các quy định của Hiến pháp 2013, thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật về tài chính, ngân sách đầu tư mới được ban hành. Đồng thời, khắc phục những tồn tại, hạn chế sau hơn 8 năm triển khai thi hành Luật Quản lý nợ công như: các tồn tại liên quan đến quy định về cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ, vay nợ của chính quyền địa phương; quản lý rủi ro; thống kê, kế toán, kiểm tra, giám sát nợ công, nâng cao và gắn trách nhiệm giải trình với chức năng, nhiệm vụ quản lý nợ công của các cơ quan có liên quan.

“Việc ban hành luật cũng đáp ứng yêu cầu quản lý nợ bền vững, an toàn, hiệu quả phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới. Đặc biệt, khi Việt Nam đã chuyển thành quốc gia có thu nhập trung bình thì nguồn vốn ODA trong thời gian tới sẽ giảm dần và kết thúc, thay vào đó là các nguồn vốn vay với điều kiện gần với điều kiện thị trường”, ông Trương Hùng Long nhận định.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.735 22.805 27.564 27.893 31.343 31.845 206,32 210,25
BIDV 22.735 22.805 27.598 27.918 31.399 31.865 207,09 210,15
VietinBank 22.723 22.803 27.505 27.883 32.311 31.871 206,79 210,19
Agribank 22.735 22.810 27.728 28.057 31.586 32.020 208,88 212,15
Eximbank 22.720 22.810 27.581 27.940 31.490 31.900 207,77 210,47
ACB 22.740 22.810 27.562 27.908 31.552 31.868 207,67 210,28
Sacombank 22.735 22.817 27.606 27.961 31.548 31.903 207,67 210,71
Techcombank 22.710 22.805 27.315 28.043 31.124 31.976 206,21 211,70
LienVietPostBank 22.720 22.820 27.527 27.988 31.521 31.945 207,37 211,00
DongA Bank 22.740 22.810 27.610 27.920 31.500 31.880 206,30 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
Vàng SJC 5c
36.550
36.770
Vàng nhẫn 9999
36.600
37.000
Vàng nữ trang 9999
36.200
36.800