16:00 | 07/02/2018

Thu hút FDI: Góc nhìn từ người dẫn đầu

Các ngành mà DN Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam đang tiếp tục được đa dạng hoá.

Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký giảm mạnh, song vốn thực hiện tăng 10,5%
“Mở hàng” FDI và kỳ vọng 2018
Bất động sản nhiều khởi sắc từ vốn FDI

Năm 2017, Nhật Bản đã trở lại vị trí dẫn đầu trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Sự quay trở lại của đất nước mặt trời mọc sau 4 năm lui về vị trí thứ 2 sau Hàn Quốc đã khẳng định lại rằng, NĐT này vẫn đánh giá Việt Nam là điểm đến nhiều triển vọng, với môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện.

Gần 5 tỷ USD vốn Nhật Bản được rót vào nhiệt điện trong năm 2017

Nhật Bản quay lại vị trí số 1

Cái nhìn tích cực và lạc quan của NĐT Nhật Bản về Việt Nam vừa được Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) khẳng định lại qua cuộc họp báo công bố kết quả “Khảo sát về thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN Nhật Bản tại Việt Nam”, tổ chức ngày 6/2. Thông tin được tổng hợp trên kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN Nhật Bản tại châu Á và châu Đại Dương trong năm 2017.

Ông Kitagawa Hironobu, Trưởng đại diện Jetro tại Hà Nội vui mừng cho biết, trong năm vừa qua đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đã ghi nhận nhiều kỷ lục. Đó là số dự án đầu tư mới đạt 367 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm đạt 8,64 tỷ USD, đều cao nhất từ trước tới nay. Bên cạnh đó, trong số 5 dự án có vốn đầu tư cao nhất năm 2017, NĐT Nhật Bản góp tới 3 dự án; riêng 2 dự án nhà máy nhiệt điện của Nhật Bản đầu tư tại Thanh Hoá và Khánh Hoà có quy mô lớn nhất cả nước.

Việc NĐT Nhật mạnh tay rót vốn hơn vào Việt Nam là rất dễ hiểu nếu nhìn vào bức tranh về triển vọng hoạt động của các DN nước này. Cụ thể, khảo sát của Jetro trong năm 2017 ghi nhận tỷ lệ DN trả lời “có lãi” chiếm 65,1%, tăng 2,3 điểm % so với năm trước; trong khi DN trả lời “lỗ” là 19,4%, giảm 5,7 điểm % so với năm trước. Nếu tính theo loại hình DN thì trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, tỷ lệ các DN gia công xuất khẩu trả lời có lãi là 67,5%, vượt mức bình quân so với tổng thể. Điều này cho thấy hoạt động của các DN Nhật Bản tại Việt Nam trong năm 2017 đạt hiệu quả cao hơn so với 2016.

Với kết quả hoạt động khả quan, khoảng 70% DN Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam cho biết có kế hoạch mở rộng kinh doanh và tiếp tục coi Việt Nam là địa điểm đầu tư quan trọng, tăng gần 3% so với năm 2016. Khoảng 88% DN cho rằng lý do chính để mở rộng kinh doanh là tăng doanh thu. Trong ngành công nghiệp phi chế tạo, khoảng 58% số DN cho rằng lý do chính là khả năng tăng trưởng và tiềm năng cao. Jetro cũng lưu ý, tỷ lệ DN có ý định mở rộng hoạt động tại Việt Nam cao hơn so với nhiều nước xung quanh như Trung Quốc (48,2%), Thái Lan (47,2%), Indonesia (51,4%), Philippines (63,4%).

Đánh giá về các thuận lợi trong môi trường đầu tư Việt Nam thúc đẩy DN Nhật Bản mở rộng hoạt động, ông Kitagawa Hironobu cho biết, hơn một nửa số DN đánh giá cao về quy mô thị trường, tính tăng trưởng; tình hình chính trị, xã hội ổn định; và chi phí nhân công rẻ.

Và thông điệp để giữ chân NĐT ngoại

Khảo sát của Jetro trong năm vừa qua cũng tiếp tục ghi nhận xu hướng đầu tư ngoài ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã tăng lên, so với trước đây các ngành mà DN Nhật Bản rót vốn vào Việt Nam đang tiếp tục được đa dạng hoá. Các lĩnh vực được NĐT Nhật Bản quan tâm gồm dịch vụ và nông nghiệp.

Ông Kitagawa Hironobu khẳng định, đích đến đầu tư không chỉ giới hạn trong các ngành truyền thống như trước kia mà bắt đầu mở rộng vào các ngành khác, cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn. Vì vậy chắc chắn thời gian tới các DN Nhật Bản sẽ tiếp tục gia tăng đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên DN Nhật Bản cũng phản ánh môi trường đầu tư Việt Nam còn nhiều vấn đề cần cải thiện tốt hơn, như vậy sẽ thúc đẩy tích cực mối quan hệ đầu tư giữa 2 nước.

Liên quan đến rủi ro trong môi trường đầu tư của các DN Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam, Jetro cho biết trong số 5 hạng mục đứng đầu thì có 3 hạng mục đã được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn như các kết quả điều tra trước, khoảng hơn 60% DN cho rằng chi phí nhân công tăng cao; khoảng 50% DN cho rằng hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, vận dụng pháp luật không rõ ràng; khoảng 40% DN cho rằng cơ chế, thủ tục thuế phức tạp, thủ tục hành chính phức tạp là các vấn đề DN chỉ ra và cần phải được nhanh chóng cải thiện.

Nhận định về yếu tố rủi ro hàng đầu là chi phí nhân công tăng cao, đại diện của Jetro cho rằng nguyên nhân lớn nhất là ở Việt Nam lương tối thiểu tiếp tục tăng lên qua các năm, tuy nhiên năng suất lao động trong các ngành cụ thể thì không tăng tương ứng so với mức tăng lương. Điều này đặt ra yêu cầu các ngành công nghiệp của Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao năng suất lao động.

Bên cạnh đó, một yếu tố tuy không phải rủi ro hàng đầu, song lại là vấn đề chậm cải thiện, thậm chí thụt lùi trong năm vừa qua. Đó là tình hình cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện. Theo đó tỷ lệ cung ứng nội địa của Việt Nam đạt 33,2%, giảm 1 điểm % so với năm trước. So sánh với các quốc gia khác trong khu vực như Thái Lan (58,6%), Trung Quốc (67,3%), Indonesia (45,2%), Philippines (42,2%)… thì tỷ lệ của Việt Nam là thấp hơn hẳn.

Jetro cũng lưu ý, tỷ lệ cung ứng nội địa của chính các DN Việt Nam trong năm qua cũng giảm xuống mức 13,1%, là mức rất thấp. Tổ chức này cho rằng, đối với các DN hoạt động toàn cầu nếu phải nhập khẩu quá nhiều linh kiện, vật liệu thì rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tăng rất nhiều. Vì vậy thời gian tới Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, đưa DN trong nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Kết lại, Jetro cho rằng những vấn đề mà tổ chức này nêu ra không chỉ là vướng mắc của riêng DN Nhật Bản, mà là của nhiều NĐT từ các quốc gia khác đang phải đối mặt trong quá trình hoạt động ở Việt Nam. Những vấn đề này cũng sẽ là tiêu chí để các DN nước ngoài căn cứ và lựa chọn trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào Việt Nam hay một quốc gia khác. Vì vậy, hy vọng thời gian tới cơ quan quản lý của Việt Nam sẽ đưa ra các chính sách cũng như thông điệp rõ ràng hơn để cải thiện môi trường đầu tư, thu hút dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,80
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 27.774 28.106 31.416 31.920 208,41 213,24
BIDV 22.705 22.775 27.772 28.089 31.369 31.839 210,12 213,26
VietinBank 22.696 22.776 27.742 28.148 31.386 31.946 210,35 213,83
Agribank 22.680 22.760 27.800 28.130 31.398 31.831 210,34 213,65
Eximbank 22.680 22.770 27.726 28.087 31.498 31.908 211,03 213,78
ACB 22.705 22.775 27.666 28.174 31.507 32.006 210,57 214,44
Sacombank 22.697 22.790 27.814 28.175 31.554 31.911 210,82 213,94
Techcombank 22.685 22.775 27.465 28.344 31.104 32.003 209,05 215,21
LienVietPostBank 22.650 22.775 27.736 28.203 31.491 31.912 210,54 214,23
DongA Bank 22.700 22.770 27.720 28.140 30.490 30.980 210,60 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.870
37.040
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.870
37.020
Vàng SJC 5c
36.870
37.040
Vàng nhẫn 9999
36.770
37.170
Vàng nữ trang 9999
36.420
37.120