Điểm lại thông tin kinh tế ngày 21/6

08:09 | 22/06/2021

Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được giữ nguyên niêm yết ở mức 22.975 VND/USD; Nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn có sự phân hóa mạnh khiến các chỉ số rơi vào trạng thái giằng co. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 5,14 điểm (-0,37%) xuống 1.372,63 điểm là những thông tin kinh tế nổi bật ngày 21/6.

diem lai thong tin kinh te ngay 216 115820 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 14-18/6
diem lai thong tin kinh te ngay 216 115820 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 17/6
diem lai thong tin kinh te ngay 216 115820 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/6

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ: Phiên 21/06, tỷ giá trung tâm được NHNN niêm yết ở mức 23.167 VND/USD, tiếp tục tăng mạnh 19 đồng so với phiên cuối tuần trước. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được giữ nguyên niêm yết ở mức 22.975 VND/USD. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.812 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.023 VND/USD, tăng 13 đồng so với phiên 18/06. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh 105 đồng ở chiều mua vào và 85 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.200 - 23.250 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 21/06, lãi suất chào bình quân LNH VND tăng 0,01 – 0,03 đpt ở các kỳ hạn ngắn trong khi không thay đổi ở kỳ hạn 2W và giảm 0,05 đpt ở kỳ hạn 1M so với phiên cuối tuần trước, cụ thể: ON 1,10%; 1W 1,26%; 2W 1,35% và 1M 1,48%. Lãi suất chào bình quân LNH USD không thay đổi ở hầu hết các kỳ hạn ngoại trừ giảm 0,01 đpt ở kỳ hạn 1M, giao dịch tại: ON 0,15%; 1W 0,19%; 2W 0,24%, 1M 0,33%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp giảm ở các kỳ hạn 5Y và 7Y trong khi tăng ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: 3Y 0,88%; 5Y 1,09%; 7Y 1,32%; 10Y 2,19%; 15Y 2,46%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Phiên hôm qua, NHNN tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lưu hành trên kênh này.

Thị trường chứng khoán: Hôm qua, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn có sự phân hóa mạnh khiến các chỉ số rơi vào trạng thái giằng co. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 5,14 điểm (-0,37%) xuống 1.372,63 điểm; HNX-Index giảm 2,49 điểm (-0,78%) xuống 316,24 điểm; UPCoM-Index giảm 0,51 điểm (-0,57%) xuống 89,71 điểm. Thanh khoản thị trường giảm so với phiên cuối tuần trước với tổng giá trị giao dịch trên 27.100 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng mạnh hơn 1.132 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, riêng kỳ đầu tháng 6 từ 01-15/06/2021, cả nước nhập siêu 1,35 tỷ USD, lũy kế từ đầu năm đến hết 15/06, nhập siêu 1,96 tỷ. Cụ thể, kỳ 1 tháng 6, kim ngạch xuất khẩu đạt 12,3 tỷ USD, nhập khẩu đạt 13,65 tỷ. Lũy kế từ 01/01 đến hết 15/06, kim ngạch XK đạt 143,36 tỷ USD, NK đạt 145,32 tỷ. Như vậy, tính từ đầu năm đến ngày 15/6, tổng kim ngạch XNK của cả nước đạt 288,68 tỷ USD. Trong đó, tổng kim ngạch XK đạt 143,36 tỷ USD, tăng 29,67% so với cùng kỳ năm 2020; tổng kim ngạch NK đạt 145,32 tỷ USD, tăng 36%.

Tin quốc tế

Trong cuộc họp tại Ủy ban Kinh tế Châu Âu, Chủ tịch của ECB – Bà Christine Lagarde cho biết lạm phát của khu vực đồng EUR đang tăng lên, song chủ yếu do những yếu tố tạm thời như giá năng lượng và hiệu ứng nền. Lạm phát toàn phần có khả năng sẽ tiếp tục tăng vào mùa thu trước khi suy giảm ở đầu năm 2022. CPI của năm 2021 được dự báo ở mức 1,9%, và năm 2022 được dự báo ở mức 1,5%.

Về CSTT, vị Chủ tịch ECB khẳng định những quyết định của cơ quan này trong cuộc họp hồi đầu tháng 6 đã dựa trên tất cả các yếu tố kể cả lạm phát. Bà cho rằng các CSTT hiện hành đã phát huy hiệu quả trong việc duy trì các điều kiện tài chính thuận lợi đối với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, kết hợp với mục tiêu bảo vệ ổn định giá cả.

Tổ chức Rightmove cho biết giá nhà tại nước Anh tăng 0,8% m/m trong tháng 5, nối tiếp đà tăng rất mạnh 1,8% ở tháng 4. Theo đó, giá nhà tại quốc gia này đã tăng 7,5% so với hồi tháng 03/2020 – thời điểm ngay trước khi phong tỏa kinh tế do dịch Covid-19.

Văn phòng Thống kê Úc cho biết doanh số bán lẻ của nước này trong tháng 5 chỉ tăng 0,1% m/m sau khi đã tăng mạnh 1,1% ở tháng trước đó, thấp hơn mức tăng 0,4% theo kỳ vọng của các chuyên gia. So với cùng kỳ năm 2020, doanh số bán lẻ trong tháng vừa qua vẫn tăng tới 7,4%.

Tỷ giá ngày 21/06: USD = 0.839 EUR (-0.46% d/d); EUR = 1.192 USD (0.46% d/d); USD = 0.718 GBP (-0.87% d/d); GBP = 1.393 USD (0.87% d/d).

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800