Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 21-25/6

08:20 | 28/06/2021

Với diễn biến nền kinh tế như hiện tại, NHNN đang hướng tới kịch bản tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 12%, nhưng sẽ điều chỉnh linh hoạt đó là thông tin kinh tế nổi bật tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 21 256 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 24/6
diem lai thong tin kinh te tuan tu 21 256 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/6

Tổng quan

Tín dụng cho nền kinh tế tăng khá trong nửa đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm trước, nhiều ngân hàng thương mại đã đề nghị NHNN nới room tín dụng.

Ngày 21/06, thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2021, NHNN cho biết tính đến 15/06/2021, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 5,1% so với cuối năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 2,26%).

Dự kiến đến cuối tháng 6 tăng trưởng tín dụng có thể đạt khoảng 5,5 – 6%. Như đã đưa tin, từ đầu năm, NHNN đề ra 3 kịch bản tăng trưởng tín dụng cho năm 2021. Kịch bản 1, nếu việc tiêm vaccine đại trà và dịch Covid-19 được kiểm soát, tín dụng sẽ tăng 12% đến 13%, có thể đạt 14%. Kịch bản 2, dịch kéo dài đến tháng 6, các biện pháp giãn cách xã hội vẫn được thực hiện, thời gian tiêm vaccine kéo dài, tín dụng có thể tăng từ 10% đến 12%. Kịch bản 3, dịch kéo dài đến hết năm, tăng trưởng tín dụng khoảng 7% đến 8%.

Với diễn biến nền kinh tế như hiện tại, NHNN đang hướng tới kịch bản tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 12%, nhưng sẽ điều chỉnh linh hoạt. Với mức tín dụng 5,1% ở thời điểm giữa tháng 6, theo NHNN, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% vào cuối năm nay sẽ đạt được, thậm chí nếu thuận lợi có thể mở rộng tín dụng cao hơn con số này.

Về cơ chế cấp hạn mức TD hàng năm của NHNN cho các NHTM, các chuyên gia cũng đưa ra những ý kiến trái chiều. Ý kiến phản đối cho rằng, đây là một công cụ mang tính hành chính. NHNN không cần dùng trần TD mà có thể dùng công cụ khác để kiểm soát lạm phát và lưu lượng tiền tệ như chỉ số LTD (dư nợ tín dụng/vốn huy động), chỉ số thanh khoản, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, hệ số an toàn vốn. Mỗi NH tự điều chỉnh tăng trưởng TD theo khả năng kinh doanh của mình.

Không chỉ các chuyên gia trong nước, Moody’s từng nhận định hiệu quả chính sách tiền tệ của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực do NHNN kiểm soát thông qua đặt mục tiêu tăng trưởng TD cho từng NH và đặt trần lãi suất cho vay và tiền gửi. Tương tự, IMF cũng cho rằng Việt Nam nên dỡ bỏ dần trần tăng trưởng TD; đồng thời, nới lỏng quy định về trần lãi suất huy động và cho vay nhằm cải thiện tính hiệu quả chính sách tiền tệ theo cơ chế thị trường.

Tuy nhiên, NHNN vẫn cho rằng trong tương lai, NHNN có thể xem xét bỏ cơ chế trần tín dụng như hiện nay với điều kiện vốn trung, dài hạn chủ yếu huy động qua thị trường tài chính, chứng khoán, thị trường vốn chứ không phải qua thị trường tiền tệ; các NH không phải huy động vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn như hiện nay. Ở thời điểm hiện tại, yêu cầu quan trọng của Chính phủ đang là ổn định vĩ mô, trước hết phải ổn định thị trường tài chính tiền tệ. Hạn mức TD đang là một trong những công cụ hiệu quả để NHNN bình ổn thị trường tiền tệ.

Tóm lược thị trường trong nước từ 21/06 - 25/06

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 21/06 - 25/06, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng mạnh ở các phiên đầu tuần và giảm trở lại phiên cuối tuần. Chốt tuần, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.179 VND/USD, tăng 31 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được duy trì niêm yết ở mức 22.975 đồng. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt phiên cuối tuần ở mức 23.824 VND/USD.

Tỷ giá LNH tuần qua biến động tăng – giảm qua các phiên. Chốt phiên cuối tuần 25/06, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.012 VND/USD, chỉ tăng 02 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Trong tuần qua, tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục tăng qua hầu hết các phiên. Chốt tuần 25/06, tỷ giá tự do tăng mạnh 155 đồng ở chiều mua vào và 135 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.250 – 23.300 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Lãi suất VND LNH trong tuần từ 21/06 - 25/06 dao động theo xu hướng tăng ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống qua hầu hết các phiên. Chốt phiên 25/06, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 1,20% (+0,13 đpt); 1W 1,32% (+0,07 đpt); 2W 1,41% (+0,06 đpt); 1M 1,54% (+0,01 đpt).

Lãi suất USD LNH duy trì tăng – giảm nhẹ, chốt tuần 25/06 đóng cửa tại: ON 0,14% (-0,01 đpt); 1W 0,17% (-0,02 đpt); 2W 0,22% (-0,02 đpt) và 1M 0,33% (-0,01 đpt).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 21/06 - 25/06, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên ở tất cả 5 phiên trên kênh cầm cố, với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất đều ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không còn khối lượng lưu hành trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Trên thị trường sơ cấp, trong tuần từ 21/06 - 25/06, KBNN huy động thành công 6.275/7.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 90%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm huy động được toàn bộ lần lượt 1.000 tỷ đồng, 3.000 tỷ đồng, 2.000 tỷ đồng; kỳ hạn 30 năm chỉ huy động được 275/1.000 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5 năm tại 1,10%/năm (-0,03% so với phiên trước đó); kỳ hạn 10 năm tại 2,20%/năm (-0,01%), kỳ hạn 15 năm giữ nguyên tại 2,46%/năm; kỳ hạn 30 năm giữ nguyên tại 3,05%/năm. Trong tuần có 10.170 tỷ đồng TPCP đáo hạn. Tuần này từ 28/06 – 02/07, KBNN gọi thầu 6.000 tỷ đồng TPCP, giảm so với mức 7.000 tỷ đồng của tuần trước. Trong tuần này sẽ có 1.000 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 13.855 tỷ đồng/phiên, tăng so với mức 11.992 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP biến động trái chiều ở các kỳ hạn. Chốt phiên 25/06, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,39% (-0,01 đpt); 2 năm 0,54% (-0,01 đpt); 3 năm 0,89% (+0,01 đpt); 5 năm 1,09% (+0,003đpt); 7 năm 1,34% (+0,02 đpt); 10 năm 2,22% (+0,05 đpt); 15 năm 2,51% (+0,05 đpt); 30 năm 3,08% (0 đpt).

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần từ 21/06 - 25/06 kém sôi động khi các chỉ số không biến động mạnh khỏi mốc tham chiếu, thanh khoản giảm rõ rệt so với trước đó. Kết thúc phiên cuối tuần 25/06, VN-Index đứng ở mức 1.390,12 điểm, tăng 12,35 điểm (+0,90%) so với tuần trước đó; HNX-Index giảm 0,51 điểm (-0,16%) xuống 318,22 điểm; UPCoM-Index giảm 0,74 điểm (-0,82%) xuống 89,48 điểm.

Thanh khoản thị trường tiếp tục giảm so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt trên 23.467 tỷ đồng/phiên. Chỉ với vài phiên mua ròng nhẹ, chốt tuần khối ngoại vẫn bán ròng hơn 2.307 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Tin quốc tế

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Chủ tịch NHTW Châu Âu (ECB) cùng có những phát biểu quan trọng trong tuần vừa qua. Về phía chủ tịch Fed, trong buổi điều trần trước Ủy ban Hạ viện, ông Jerome Powell khẳng định Fed sẽ làm mọi việc, và duy trì lâu nhất có thể nhằm hỗ trợ nền kinh tế phục hồi hoàn toàn. Bên cạnh đó, ông cho biết lạm phát đã tăng lên trong những tháng gần đây, tuy nhiên được kỳ vọng sẽ giảm trở lại mức 2,0%, là mức mà Fed luôn hướng đến.

Ở phía Chủ tịch ECB, trong cuộc họp tại Ủy ban Kinh tế Châu Âu, bà Christine Lagarde cho biết lạm phát của khu vực đồng EUR đang tăng lên, song chủ yếu do những yếu tố tạm thời. Lạm phát toàn phần có khả năng sẽ tiếp tục tăng vào cuối năm, sau đó giảm ở đầu năm 2022. CPI của năm 2021 được dự báo ở mức 1,9%, và năm 2022 được dự báo ở mức 1,5%. Về CSTT, vị Chủ tịch ECB khẳng định những quyết định của cơ quan này trong cuộc họp hồi đầu tháng 6 đã dựa trên tất cả các yếu tố kể cả lạm phát. Các phát biểu trên của hai vị Chủ tịch giúp trấn an thị trường về nỗi lo LSCS tại các khu vực sẽ sớm tăng trở lại.

Mỹ đón một số chỉ báo kinh tế trái chiều, cho thấy sức phục hồi đang dần chững lại. Đầu tiên, GDP chính thức quý I/2021 của nước này tăng 6,4% q/q, không có sự điều chỉnh nào so với thống kê sơ bộ và mạnh hơn mức tăng 4,3% của quý trước đó. Trên thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tuần kết thúc ngày 19/06 ở mức 411 nghìn đơn, mặc dù giảm xuống từ mức 418 nghìn của tuần trước đó nhưng chưa xuống thấp như mức 382 nghìn theo kỳ vọng của các chuyên gia. Tiếp theo, giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền tại Mỹ trong tháng 5 tăng 0,3% m/m sau khi tăng khá mạnh 1,7% ở tháng trước đó, song vẫn thấp hơn mức tăng 0,8% theo dự báo.

Ở thị trường bất động sản, doanh số bán nhà mới tại nước này ở mức 769 nghìn căn trong tháng 5, thấp hơn khá nhiều so với mức 817 nghìn căn của tháng 4 hay mức 1,02 triệu căn của tháng 3, trái với dự báo tăng lên mức 864 nghìn căn. Doanh số bán nhà cũ tại nước này ở mức 5,80 triệu căn trong tháng 5, thấp hơn một chút so với mức 5,85 triệu căn của tháng 4, song vẫn cao hơn so với dự báo ở mức 5,70 triệu căn. Đây là tháng giảm thứ năm liên tiếp của chỉ báo này. Cuối cùng, chỉ số giá tiêu dùng PCE lõi của Mỹ tăng 0,5% m/m trong tháng 5, thấp hơn mức tăng 0,7% của tháng trước đó và đồng thời thấp hơn mức tăng 0,6% theo dự báo.

NHTW Anh BOE không thay đổi CSTT, đồng thời quốc gia này đón một số thông tin quan trọng. Cụ thể, trong phiên họp ngày 24/06, BOE nhận định kinh tế nước Anh sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm nay, và có thể về mức trước khi bị đại dịch Covid-19 tác động. Lạm phát được dự báo sẽ tạm tăng vượt lên trên mức 2,0%, chủ yếu do diễn biến của giá năng lượng. Khi các yếu tố tác động nhất thời mờ đi, lạm phát sẽ quay trở lại khoảng 2,0% trong trung hạn.

Theo đó, cơ quan này cho rằng các CSTT hiện tại vẫn phù hợp. BOE quyết định duy trì LSCS ở mức thấp 0,1%, đồng thời tiếp tục nắm giữ TPCP ở mức 875 tỷ và TPDN ở mức 20 tỷ GBP, không thay đổi so với trước. Liên quan đến chỉ báo kinh tế Anh, PMI sơ bộ lĩnh vực sản xuất tại nước Anh ở mức 64,2 điểm trong tháng 6, giảm xuống từ 65,6 điểm của tháng 5 và gần khớp với dự báo ở mức 64,1 điểm. PMI sơ bộ lĩnh vực dịch vụ của nước này giảm xuống mức 61,7 điểm trong tháng 6, trái với dự báo đi ngang ở mức 62,9 điểm của tháng 5.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800