Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 24-28/5

08:06 | 31/05/2021

Bình quân 5 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá tiêu dùng CPI của cả nước có mức tăng thấp nhất trong 5 năm trở lại đây, tuy nhiên, mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% trong năm nay vẫn không đơn giản là thông tin kinh tế nổi bật trong tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 24 285 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 27/5
diem lai thong tin kinh te tuan tu 24 285 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 26/5

Tổng quan

Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê, so với tháng trước, CPI tháng 5/2021 tăng 0,16% (khu vực thành thị và khu vực nông thôn cùng tăng 0,16%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tháng 5/2021 có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước và 3 nhóm giảm giá. Trong 8 nhóm hàng tăng giá, nhóm giao thông có mức tăng so với tháng trước cao nhất với 0,76% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 27/04 và 12/05/2021, trong đó, bình quân giá xăng E5 tăng 440 đồng/lít so với tháng trước, giá xăng A95 tăng 370 đồng/lít, giá dầu diezen tăng 450 đồng/lít. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,4% so với tháng trước do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,93% theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào.

Bên cạnh đó, chỉ số giá điện, nước sinh hoạt lần lượt tăng 2,54% và 1,27% do nhu cầu tiêu dùng tăng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 5 tăng 0,04% so với tháng trước, chủ yếu do trong tháng có kỳ nghỉ Lễ 30/04 - 01/05 làm chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,31%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09% do giá các sản phẩm sử dụng nhiều vào dịp hè như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, quạt điện tăng… Trong 3 nhóm hàng giảm giá, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 có mức giảm so với tháng trước nhiều nhất với 0,23% do du lịch trọn gói giảm 0,7%.

Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,15% chủ yếu do các doanh nghiệp đẩy mạnh chương trình khuyến mại giảm giá đối với các sản phẩm điện thoại mẫu mã cũ; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,01% so với tháng trước. CPI tháng 5/2021 tăng 1,43% so với tháng 12/2020 và tăng 2,9% so với tháng 5/2020. Trong khi đó, bình quân 5 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước.

Đây là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 (CPI bình quân 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt tăng 1,59%; 4,47%; 3,01%; 2,74%; 4,39%; và tăng 1,29%). Như vậy, lạm phát của Việt Nam vẫn đang tiếp tục duy trì mức tăng thấp, chỉ 1,29% và vẫn còn cách khá xa mục tiêu điều hành lạm phát dưới 4% của năm nay. Điều này sẽ tạo thuận lợi hơn cho công tác chỉ đạo, điều hành giá cả năm 2021.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm vẫn không hề nhẹ. Nguyên nhân chính là giá xăng dầu năm 2020 giảm liên tục, khiến CPI cả năm 2020 chỉ tăng 3,23%. CPI năm nay đứng trên nền thấp để so sánh, nên nhiều khả năng sẽ cao nếu không kiểm soát thật tốt cả cung - cầu hàng hóa, lẫn điều hành chính sách tài chính, tiền tệ.

Đại dịch Covid-19 trên thế giới đang diễn biến phức tạp hơn, nguy hiểm hơn, nhưng không vì thế mà hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại bị kìm hãm như năm 2020, nên kinh tế thế giới sẽ phục hồi mạnh mẽ (ước tăng 4-4,5%).

Theo đó, nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ sẽ tăng, đẩy mặt bằng giá đầu vào của hoạt động sản xuất tăng, tạo ra áp lực lạm phát cho Việt Nam do Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn nguyên, nhiên vật liệu, thiết bị, máy móc, vật tư, phụ liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Ở trong nước, cộng đồng doanh nghiệp đang thích ứng với điều kiện bình thường mới, hoạt động sản xuất, kinh doanh sôi động trở lại. Trong 4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 10% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 2,8%), khiến nhu cầu về vốn, nguyên nhiên vật liệu tăng lên.

Ngoài ra, để phục hồi kinh tế, chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng qua việc miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí; hỗ trợ tiền cho người dân bị tác động tiêu cực bởi Covid-19; nới lỏng chính sách tiền tệ, nên cũng tạo áp lực rất lớn đối với việc kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm. Thêm vào đó, còn một yếu tố khác có thể ảnh hưởng tới lạm phát năm nay. Đó là việc khi lạm phát đang thấp, rất có thể, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý, như điện, nước, dịch vụ y tế… để tiệm cận với thị trường.

Nhằm giảm bớt áp lực lạm phát vào cuối năm 2021, kiểm soát bền vững lạm phát năm 2022, đối với các yếu tố chủ quan, các cơ quan chức năng cần theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu; chủ động trong việc điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý đúng thời điểm với liều lượng phù hợp; Liên Bộ Công Thương - Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu hợp lý để hạn chế mức tăng giá của mặt hàng này đến CPI chung.

Tóm lược thị trường trong nước từ 24/05 - 28/05

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 24/05 - 28/05, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh theo xu hướng giảm qua các phiên. Chốt phiên cuối tuần 28/05, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.135 VND/USD, giảm 25 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được duy trì niêm yết ở mức 23.125 VND/USD. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt phiên cuối tuần ở mức 23.781 VND/USD.

Tỷ giá LNH tuần qua biến động nhẹ. Chốt ngày 28/05, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.055 VND/USD, giảm nhẹ 04 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Trong tuần qua, tỷ giá trên thị trường tự do giảm ở hầu hết các phiên. Chốt tuần 28/05, tỷ giá tự do giảm 45 đồng ở chiều mua vào và 70 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.185 – 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Trong tuần từ 24/05 - 28/05, lãi suất VND LNH tăng khá mạnh ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Chốt phiên 28/05, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 1,47% (+0,21 đpt); 1W 1,57% (+0,24 đpt); 2W 1,63% (+0,22 đpt); 1M 1,70% (+0,18 đpt).

Trong khi đó, lãi suất USD LNH duy trì dao động tăng – giảm nhẹ, chốt tuần không thay đổi ở tất cả các kỳ hạn so với phiên cuối tuần trước đó, đóng cửa tại: ON 0,15%; 1W 0,18%; 2W 0,23% và 1M 0,33%.

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 124/05 - 28/05, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên ở tất cả 5 phiên qua kênh cầm cố, với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất đều ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lưu hành trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Trong tuần từ 24/05 - 28/05, KBNN huy động thành công 14.650/15.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 95%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm, 10 năm và 15 năm huy động toàn bộ lần lượt 2.250 tỷ đồng, 8.000 tỷ đồng và 3.000 tỷ đồng, kỳ hạn 30 năm huy động được 1.400/2.250 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm và 30 năm lần lượt tại 1,13%/năm (-0,01%), 2,27%/năm (-0,07%), 2,54%/năm (-0,04%) và 3,05%/năm (không đổi). Trong tuần qua không có TPCP đáo hạn. Tuần từ 31/05 – 04/06, KBNN gọi thầu 11.000 tỷ đồng TPCP (chưa bao gồm đấu thầu bổ sung). Trong tuần có 7.000 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 15.655 tỷ đồng/phiên, tăng mạnh so với mức 10.106 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Trong tuần 24/05 - 28/05, lợi suất TPCP tăng ở các kỳ hạn từ 1 – 5 năm, giảm ở các kỳ hạn 7 – 15 năm, trong khi không thay đổi ở kỳ hạn 30 năm. Chốt phiên 28/05, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,48% (+0,17 đpt); 2 năm 0,56% (+0,09 đpt); 3 năm 0,86% (+0,11 đpt); 5 năm 1,14% (+0,01đpt); 7 năm 1,38% (-0,04 đpt); 10 năm 2,29% (-0,05 đpt); 15 năm 2,56% (-0,03 đpt); 30 năm 3,09%.

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần từ 24/05 - 28/05 nối tiếp đà tích cực của các tuần trước đó với giao dịch diễn ra sôi động và chỉ số VN-Index vượt ngưỡng 1.300 điểm. Chốt tuần 28/05, VN-Index đứng ở mức 1.320,46 điểm, tăng mạnh 36,53 điểm (+2,85%) so với tuần trước đó; HNX-Index tăng mạnh 12,47 điểm (+4,18%) lên 310,46 điểm; UPCoM-Index tăng 4,48 điểm (+5,49%) lên 86,11 điểm.

Thanh khoản thị trường tiếp tục tăng với giá trị giao dịch đạt gần 26.130 tỷ đồng/phiên. Tuy có 3 phiên mua ròng cuối tuần nhưng khối ngoại vẫn bán ròng mạnh 1.208 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Chính phủ Mỹ có ý định chi ngân sách lớn trong tương lai. Ngày 28/06, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đề xuất một khoản ngân sách trị giá 6.000 tỷ USD nhằm tái tạo nền kinh tế Mỹ, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của nước này trong tương lai. Ông Biden cho rằng nền kinh tế Mỹ sau đại dịch sẽ cần thêm tiềm lực để có thể trở lại như trước đây, bên cạnh đó đây là thời điểm cần nắm bắt để tái tạo và định hình lại một nền kinh tế mới của Mỹ.

Về kế hoạch chi tiết, quỹ liên bang sẽ chi 6,011 nghìn tỷ USD vào năm 2022 và tăng dần lên 8,2 nghìn tỷ USD vào năm 2031. Trong 6.000 tỷ trên, Chính quyền Joe Biden đang đề xuất dự luật chi tiêu 1.700 tỷ USD vào xây dựng cơ sở hạ tầng, tuy nhiên dự luật này vẫn đang vấp phải sự phản đối của nhiều nhà lập pháp Mỹ, đặc biệt là các nghị sỹ thuộc Đảng Cộng hòa. Trước khi ông Biden cho biết kế hoạch ngân sách 6000 tỷ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Janet Yellen ngày 27/05 phát biểu rằng các gói chi tiêu ngân sách sẽ mang lại lượng thuế nhiều hơn trong dài hạn và dẫn đến bội chi giảm xuống.

Về lạm phát, bà Yellen tái khẳng định chỉ số CPI đang cao như hiện tại chỉ mang tính tạm thời, kế hoạch chi tiêu của Chính phủ Joe Biden có thể làm gia tăng tỷ lệ nợ công của nước Mỹ, nhưng sẽ không ảnh hưởng đến lạm phát trong tương lai.

Mỹ đón một số chỉ báo kinh tế quan trọng. Đầu tiên, GDP của quốc gia này tăng 6,4% q/q trong quý I/2021 theo báo cáo sơ bộ lần 2, không thay đổi so với thống kê sơ bộ lần 1 và chưa đạt kỳ vọng tăng 6,5% của các chuyên gia. Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 22/05 ở mức 406 nghìn đơn, giảm so với mức 444 nghìn đơn của tuần trước đó, sâu hơn mức 427 nghìn đơn theo dự báo.

Chỉ số niềm tin tiêu dùng tại Mỹ do Conference Board khảo sát đạt mức 117,2 điểm trong tháng 5, giảm nhẹ từ mức 117,5 điểm của tháng trước đó và trái với dự báo tăng lên thành 119,4 điểm. Chỉ số PCE của Mỹ (chỉ số giá thay đổi trong lĩnh vực tiêu dùng, không bao gồm thực phẩm và năng lượng) tăng 0,7% m/m trong tháng 4, nối tiếp đà tăng 0,4% của tháng trước đó và vượt qua mức tăng 0,5% theo dự báo. Cuối cùng, doanh số nhà chờ bán tại Mỹ giảm 4,4% m/m trong tháng 4 sau khi tăng 1,7% ở tháng trước đó, trái với kỳ vọng tiếp tục tăng nhẹ 0,6%.

Kinh tế Đức đón nhận một số thông tin trái chiều. Về tiêu cực, GDP của nước này chính thức giảm 1,8% q/q trong quý I/2021 sau khi tăng 0,3% ở quý trước đó, sâu hơn mức giảm 1,7% theo thống kê sơ bộ. Về thông tin tích cực, niềm tin kinh doanh tại nước Đức ở mức 99,2 điểm trong tháng 5, tăng lên từ 96,6 điểm của tháng trước đó và vượt qua mức 98,2 điểm theo dự báo. Tiếp theo, chỉ số giá nhập khẩu tại Đức tăng 1,4% m/m trong tháng 4 sau khi tăng 1,8% ở tháng 3, mạnh hơn mức tăng 1,0% theo dự báo.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400