Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 30/8 - 1/9

07:21 | 06/09/2021

Trong các ngày từ 30/08 - 01/09 trước kỳ nghỉ lễ, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh giảm khá mạnh ở cả 3 phiên giao dịch. Chốt tuần, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.109 VND/USD, giảm mạnh 33 đồng so với phiên cuối tuần trước đó; Kết thúc phiên giao dịch trước kỳ nghỉ lễ 01/09, VN-Index đứng ở mức 1.334,65 điểm, tương ứng tăng 25,10 điểm (+1,63%) so với tuần trước đó...

diem lai thong tin kinh te tuan tu 308 19 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 31/8
diem lai thong tin kinh te tuan tu 308 19 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 30/8
diem lai thong tin kinh te tuan tu 308 19 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 23-27/8

Tổng quan:

Tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài giảm nhẹ trong 8 tháng năm 2021 trong khi giải ngân số vốn này tăng nhẹ so với cùng kỳ 2020.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 20/8/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của NĐTNN đạt 19,12 tỷ USD, bằng 97,9% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong đó, có 1.135 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư (giảm 36,8% về số dự án so với cùng kỳ 2020) với tổng vốn đăng ký đạt gần 11,33 tỷ USD (tăng 16,3% so với cùng kỳ về số vốn đăng ký). Ngoài ra, 639 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 11%) nhưng tổng vốn đăng ký tăng thêm vẫn tăng nhẹ 2,3% so với cùng kỳ (đạt gần 5 tỷ USD). Trong khi đó, có 2.720 lượt góp vốn mua cổ phần của NĐTNN (giảm 43,4%), tổng giá trị vốn góp đạt gần 2,81 tỷ USD (cũng giảm 43,4% so với cùng kỳ).

Về lĩnh vực đầu tư, các NĐTNN đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 9,3 tỷ USD, chiếm 48,4% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp đến là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện với tổng vốn đầu tư gần 5,5 tỷ USD, chiếm 28,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đáng chú ý, lĩnh vực bất động sản đứng thứ 3 trong danh sách các lĩnh vực thu hút vốn từ các NĐTNN trong 8 tháng qua với gần 1,6 tỷ USD.

Trong 8 tháng qua, Singapore là nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam với hơn 6,2 tỷ USD, chiếm gần 32,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, giảm 5% so với cùng kỳ 2020. Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 3,2 tỷ USD, chiếm 16,8% tổng vốn đầu tư, tăng 94,9% so với cùng kỳ. Hàn Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2,4 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư, giảm 17,8% so với cùng kỳ. Đây là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới cũng như số lượt dự án điều chỉnh vốn.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, một số nhà máy ngưng hoặc giảm công suất, vốn thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong tháng 8/2021 giảm 12,2% so với tháng 8/2020 và giảm 14,3% so với tháng 7/2021. Tuy nhiên, tính cả 8 tháng năm 2021, vốn thực hiện vẫn tăng nhẹ, đạt 11,58 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ.

Mặc dù vốn đầu tư nước ngoài đã tăng trở lại sau khi giảm trong tháng 7, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn nhắc lại lưu ý về khả năng giảm nguồn vốn này trong thời gian tới. Thống kê của OECD cho thấy vốn, FDI toàn cầu năm 2020 giảm 38% xuống mức thấp nhất tính từ năm 2005. Theo đánh giá của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), dòng vốn FDI toàn cầu đã giảm khoảng 40% trong năm 2020, tiếp tục giảm 5-10% trong năm 2021 và từ năm 2022 sẽ bắt đầu phục hồi chậm trở lại. Còn theo dự báo của Ngân hàng Thế giới WB, ngay cả khi đại dịch dự kiến dần kết thúc vào năm 2021, mức phục hồi ngắn hạn trong đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển cũng chỉ đạt 5,7%, thấp hơn nhiều so với con số 10,8% của năm 2010 (sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu).

Theo OECD, vốn FDI đặc biệt “nhạy cảm” với khả năng đi lại của nhà đầu tư. Điều này nghĩa là vốn FDI sẽ không thể hồi phục hoàn toàn cho đến khi hoạt động đi lại quốc tế trở lại gần sát ngưỡng trước đại dịch. Đặc biệt đối với phần đông nước đang phát triển tại châu Á, viễn cảnh trên dường như khá xa vời. Ngay cả tại những nước đã có đủ năng lực để tiêm chủng, tỷ lệ tiêm vaccine Covid-19 vẫn ở mức thấp. Các biện pháp hạn chế đi lại dự kiến sẽ vẫn được áp dụng trong suốt năm nay và thậm chí lâu hơn nữa tại nhiều nơi. Điều này cũng đúng như tình trạng ở Việt Nam khi các chuyên gia cho rằng, chừng nào còn giãn cách, hạn chế đi lại, chừng đó dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Tóm lược thị trường trong nước từ 30/08 - 01/09

Thị trường ngoại tệ: Trong các ngày từ 30/08 - 01/09 trước kỳ nghỉ lễ, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh giảm khá mạnh ở cả 3 phiên giao dịch. Chốt tuần, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.109 VND/USD, giảm mạnh 33 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được niêm yết ở mức 22.750 đồng. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt phiên cuối tuần ở mức 23.752 VND/USD.

Trong tuần qua, tỷ giá LNH vẫn tiếp tục xu hướng giảm của các tuần trước đó. Chốt phiên cuối tuần 01/09, tỷ giá LNH đóng cửa tại 22.773 VND/USD, giảm mạnh 32 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tuần qua, tỷ giá trên thị trường tự do biến động trái chiều, chốt tuần giảm 60 đồng ở chiều mua vào trong khi tăng 40 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 22.950 VND/USD và 23.150 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Lãi suất VND LNH trong các ngày từ 30/08 - 01/09 ít biến động ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Chốt phiên 01/09, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 0,71% (+0,01 đpt); 1W 0,85% (+0,01 đpt); 2W 0,98% (+0,02 đpt); 1M 1,20% (+0,01 đpt).

Lãi suất USD LNH vẫn gần như không biến động trong tuần. Chốt tuần 01/09, lãi suất USD LNH đóng cửa không thay đổi ở các kỳ hạn ON và 1W trong khi tăng 0,01 đpt ở kỳ hạn 2W và giảm 0,01 đpt ở kỳ hạn 1M, giao dịch tại: ON 0,15%; 1W 0,18%; 2W 0,23% và 1M 0,31%.

Thị trường mở: Trên thị trường mở các ngày từ 30/08 - 01/09, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên ở tất cả 3 phiên trên kênh cầm cố, với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất đều ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không còn khối lượng lưu hành trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Trong tuần từ 30/08 - 01/09, KBNN huy động thành công 10.450/10.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu ~100%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm, 15 năm và 20 năm huy động toàn bộ lần lượt 1.000 tỷ đồng, 4.500 tỷ đồng và 3.000 tỷ đồng; kỳ hạn 10 năm huy động được 1.950/2.000 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn lần lượt tại 5 năm 0,82%/năm (-0,02%); 10 năm 2,05%/năm (không đổi); 15 năm 2,28%/năm (+0,02%); 20 năm 2,82%/năm (-0,01%). Trong tuần có 4.850 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Tuần này từ 06/09 - 10/09, KBNN sẽ tiếp tục gọi thầu 8.000 tỷ đồng TPCP. Trong tuần này sẽ có 1.300 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 7.473 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức 9.678 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP biến động trái chiều trong tuần vừa qua. Chốt phiên 01/09, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,31% (-0,01 đpt); 2 năm 0,54% (-0,004 đpt); 3 năm 0,7% (+0,01 đpt); 5 năm 0,83% (-0,01đpt); 7 năm 1,19% (+0,01 đpt); 10 năm 2,07% (-0,01 đpt); 15 năm 2,28% (-0,01 đpt); 30 năm 2,98% (+0,01 đpt).

Thị trường chứng khoán: Trong các phiên giao dịch trước kỳ nghỉ lễ từ 30/08 - 01/09, thị trường chứng khoán có liên tiếp 3 phiên tăng điểm trên cả 3 sàn, tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn duy trì bán ròng. Kết thúc phiên giao dịch trước kỳ nghỉ lễ 01/09, VN-Index đứng ở mức 1.334,65 điểm, tương ứng tăng 25,10 điểm (+1,63%) so với tuần trước đó; HNX-Index tăng 7,41 điểm (+1,37%) lên 343,42 điểm; UPCoM-Index tăng 2,48 điểm (+2,04%) lên 94,01 điểm

Thanh khoản thị trường tăng so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt trên 25.700 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh gần 1.460 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Nước Mỹ đón một số thông tin kinh tế quan trọng. Đầu tiên, PMI lĩnh vực sản xuất của nước này do ISM khảo sát được ở mức 59,9% trong tháng 8, tăng nhẹ từ mức 59,5% của tháng 7, trái với dự báo giảm xuống còn 58,5%. Tuy nhiên, PMI lĩnh vực dịch vụ trong tháng vừa qua chỉ ở mức 61,7%, giảm xuống từ 64,1% của tháng 7 và đồng thời xuống sâu hơn mức 61,9% theo dự báo. Ở thị trường lao động, nước Mỹ tạo ra 235 nghìn việc làm phi nông nghiệp mới trong tháng 8, thấp hơn nhiều so với mức 1,053 triệu việc làm mới của tháng 7, và đồng thời thấp hơn mức 720 nghìn theo kỳ vọng.

Mặc dù vậy, thu nhập bình quân của người dân Mỹ vẫn tăng 0,6% m/m trong tháng 8, cao hơn mức 0,4% của tháng 7 và mức 0,3% theo dự báo. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ giảm còn 5,2% trong tháng 8 từ mức 5,4% của tháng trước đó, khớp với những gì thị trường kỳ vọng. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong ctuần kết thúc ngày 28/08 ở mức 340 nghìn đơn, giảm nhẹ từ 354 nghìn đơn của tuần trước đó và sát với dự báo ở mức 342 nghìn đơn. Cuối cùng, niềm tin tiêu dùng tại Mỹ do Conference Board khảo sát được ở mức 113,8 điểm trong tháng 8, giảm từ mức 125,1 điểm của tháng 7, đồng thời xuống thấp hơn nhiều so với mức 122,9 điểm theo dự báo của các chuyên gia.

Khu vực Eurozone cho thấy những tín hiệu tích cực. Đầu tiên, CPI toàn phần và CPI lõi của Eurozone lần lượt tăng 3,0% và 1,6% y/y trong tháng 8, cao hơn mức tăng 2,2% và 0,7% của tháng 7, đồng thời cao hơn mức tăng 2,7% và 1,5% theo dự báo. Trên thị trường lao động, tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này ở mức 7,6% trong tháng 7, giảm xuống từ mức 7,8% của tháng 6 và khớp với kỳ vọng của các chuyên gia. Tiếp theo, tại nước Đức nói riêng, PMI chính thức lĩnh vực sản xuất của nước này trong tháng 8 ở mức 62,6 điểm, chỉ điều chỉnh nhẹ từ mức 62,7 điểm theo kháo sát sơ bộ.

Nước Úc ghi nhận một số thông tin kinh tế trái chiều. Đầu tiên, ở chiều tích cực, GDP của nước này tăng 0,7% q/q trong quý 2, nối tiếp đà tăng 1,9% của quý trước đó, đồng thời vượt qua mức tăng 0,5% theo kỳ vọng. So với cùng kỳ năm 2020, GDP quý 2 của Úc đã tăng tới 9,6%. Tiếp theo, cán cân thương mại hàng hóa của Úc thặng dư 12,1 tỷ AUD trong tháng 7, cao hơn mức thặng dư 11,1 tỷ của tháng trước đó, đồng thời cao hơn mức thặng dư 10,1 tỷ theo dự báo. Ở chiều tiêu cực, số cấp phép xây dựng tại Úc trong tháng 7 giảm 8,6% m/m, nối tiếp đà giảm 5,5% của tháng trước đó, đồng thời sâu hơn mức giảm 5,0% theo dự báo. Doanh số bán lẻ của quốc gia này trong tháng 7 cũng giảm 2,7% m/m; bằng với mức giảm của tháng 6 và sâu hơn mức dự báo giảm 1,9%. Cuối cùng, PMI lĩnh vực xây dựng của nước Úc ở mức 38,4 điểm trong tháng 8, giảm mạnh từ mức 48,7 điểm của tháng 7.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.310 23.610 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.270 23.630 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.270 23.590 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.260 23.750 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.309 23.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.940 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.350 23.640 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.900
67.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.900
67.900
Vàng SJC 5c
66.900
67.920
Vàng nhẫn 9999
54.600
55.600
Vàng nữ trang 9999
54.400
55.200