Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 4-6/5

08:23 | 09/05/2022

Tuần qua, lãi suất VND LNH tiếp tục tăng ở hầu hết các kỳ hạn qua cả 3 phiên giao dịch. Chốt ngày 29/04, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 1,65% (+0,15 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 1W 2,0% (+0,02 đpt); 2W 2,13 (+0,01 đpt); 1M 2,21% (-0,03 đpt); Thị trường chứng khoán, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần 29/04, VN-Index đứng ở mức 1.329,26 điểm, tương ứng giảm 37,54 điểm (-2,75%) so với tuần trước đó.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 4 65 Điểm lại thông tin kinh tế tuần trước nghỉ lễ 30/4 và 1/5
diem lai thong tin kinh te tuan tu 4 65 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 18-22/4

Tổng quan

Tuần qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed quyết định nâng lãi suất ở mức cao lịch sử trong vòng 2 thập kỷ qua và giảm quy mô tài sản nắm giữ ở mức cao kỷ lục, với kỳ vọng kiềm chế lạm phát nhưng vẫn không để kinh tế suy thoái.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed quyết định nâng lãi suất 50 đpt trong phiên họp chính sách tháng 5/2022. Đây là lần đầu tiên trong vòng 20 năm Fed nâng 50 đpt trong một phiên họp. Đây là lần thứ 2 liên tiếp Fed nâng lãi suất sau 2 năm liên tục hạ lãi suất xuống mức gần 0% để hỗ trợ nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Trước đó, trong phiên họp giữa tháng 3, Fed đã tăng lãi suất 25 đpt từ mức 0-0,25% lên 0,25-0,5%. Sau cuộc họp 04/05 lần này, mức lãi suất cơ bản hiện tại của Fed là 0,75-1,0%. Theo thông báo của Chủ tịch Fed Jerome Powe tại buổi họp báo sau phiên họp, Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong các cuộc họp sắp tới. Quan điểm của Ủy ban thị trường mở Fed là có thể tiếp tục nâng lãi suất 50 điểm cơ bản tại các cuộc họp kế tiếp, hiện Fed chưa cân nhắc nâng lãi suất 75 điểm cơ bản.

Theo dự báo của CME Group, thị trường kỳ vọng Fed sẽ nâng lên 3-3,25% vào cuối năm 2022. Cùng với động thái nâng lãi suất, Fed cho biết sẽ giảm quy mô tài sản trên bảng cân đối kế toán, hiện đang ở mức cao kỷ lục 9.000 tỷ USD. Tuy nhiên, mức độ cắt giảm quy mô tài sản trên bảng cân đối kế toán sẽ diễn ra ở mức chậm hơn kỳ vọng của thị trường. Cụ thể, từ đầu tháng 6, Fed sẽ giảm 30 tỷ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ và 17,5 tỷ USD chứng khoán đảm bảo bằng khoản thế chấp mỗi tháng. Sau 3 tháng, nhịp độ sẽ nâng lên tương ứng thành 60 tỷ USD và 35 tỷ USD.

Có thể thấy, Fed đưa ra tín hiệu để thị trường hiểu rằng Fed đang có cách tiếp cận thận trọng hơn trong việc kiềm chế lạm phát và cũng tránh gây ra suy thoái kinh tế; trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine tiếp tục kéo dài, đồng thời chính sách "zero covid" của Trung Quốc đang giảm đà phục hồi kinh tế thế giới.

Fed đưa ra quyết định thắt chặt chính sách tiền tệ mạnh như vậy trong bối cảnh từ tháng 3/2022, kinh tế Mỹ bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại: (i) GDP quý I giảm 1,4% so với quý trước (trái ngược so với mức tăng 6,9% của quý IV/2021); (ii) doanh số bán lẻ tháng 3/2022 tăng 0,7% m/m, thấp hơn mức tăng 0,8% của tháng 2/2022; (iii) áp lực lạm phát tiếp tục gia tăng và giữ ở mức cao (lạm phát tháng 4/2022 của Mỹ tăng 8,5% yoy, mức cao nhất kể từ năm 1981).

Ở chiều ngược lại, một số chỉ số vẫn duy trì xu hướng tích cực như: (i) tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 3,6% trong tháng 3 và vẫn giữ mức này trong tháng 4, mức thấp nhất kể từ tháng 3/2020; (ii) chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất do Markit khảo sát tháng 3/2022 đạt 59,2 điểm, cho thấy lĩnh vực sản xuất vẫn trong tăng trưởng phục tốt. Fed đã phải hạ dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ năm 2022 xuống mức khoảng 2,8% từ mức dự báo 4% hồi đầu năm và lạm phát tăng 4,3% năm 2022, trước khi giảm xuống 2,7% năm 2023.

Theo đánh giá của giới chuyên gia, việc tăng lãi suất chính sách của Fed có khả năng sẽ tác động đến kinh tế Việt Nam trong thời gian tới ở một số khía cạnh sau. Trước hết, mặt bằng lãi suất toàn cầu tăng lên có thể khiến kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, làm giảm sức cầu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này có thể làm giảm đà phục hồi kinh tế của Việt Nam, trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế Việt Nam đang ở mức cao (kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP năm 2021 ở mức khoảng 185%) trong khi Mỹ là đối tác XK hàng đầu của Việt Nam (năm 2021, XK của Việt Nam sang Mỹ đạt 96,3 tỷ USD, chiếm 28,6% tổng kim ngạch XK của Việt Nam).

Bên cạnh đó, việc Fed tăng lãi suất sẽ khiến đồng USD lên giá so với hầu hết các đồng tiền khác, trong đó có VND, tạo sức ép lớn hơn lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND dự báo tăng không quá lớn do: (i) dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang đạt mức khá cao (trên 110 tỷ USD), góp phần củng cố tấm đệm với các cú sốc bên ngoài và ổn định tỷ giá; (ii) nguồn cung ngoại tệ như kiều hối, giải ngân FDI dự báo vẫn tăng trưởng ổn định, cán cân thương mại 4 tháng đầu năm thặng dư 2,53 tỷ USD và cả năm dự báo vẫn thặng dư (khoảng 4-8 tỷ USD); và (iii) NHNN tiếp tục điều hành chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt, ngày càng sát diễn biến thị trường.

Đồng thời, việc tăng lãi suất của Fed sẽ làm cho lãi suất có xu hướng tăng lên khiến chi phí vay vốn mới và nghĩa vụ trả nợ bằng đồng USD tăng. Khi lãi suất và tỷ giá đồng USD tăng lên, nghĩa vụ trả nợ vay nước ngoài của doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp FDI) sẽ tăng lên đáng kể. Thêm vào đó, lãi suất cao ở Mỹ sẽ tác động đến dòng vốn đầu tư, nhất là đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Về chính sách tiền tệ, các chuyên gia nhận định, NHNN Việt Nam, cũng như NHTW các nước mới nổi ở Châu Á, chưa chịu áp lực tăng lãi suất ngay sau khi Fed nâng lãi suất. Đó chủ yếu là do: Lạm phát ở các nền kinh tế này còn đang ở mức thấp; chỉ số giá tiêu dùng CPI chưa đến mức tăng vọt; cho phép các NHTW các nước này có chính sách thích ứng từ từ. Tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi châu Á đang có vẻ yếu đi; vì vậy mục tiêu phục hồi kinh tế vẫn là số 1 đối với các quốc gia này.

Dự trữ ngoại hối ở mức cao và tiếp tục tăng; thặng dư cán cân vãng lai hiện tại có thể bảo vệ các nền kinh tế mới nổi ở châu Á khỏi áp lực thoái vốn. Vì vậy, mặc dù giới chuyên gia không kỳ vọng NHNN cắt giảm thêm các lãi suất chính sách chủ chốt của mình, nhưng cho rằng NHNN sẽ không nâng lãi suất này điều hành trong vòng 3-6 tháng tới nhằm hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. NHNN sẽ hỗ trợ thị trường thông qua hoạt động thị trường mở như bơm thanh khoản tiền đồng; mua vào ngoại hối hay nâng trần tăng trưởng tín dụng cho các NHTM…  

Tóm lược thị trường trong nước từ 04/05 - 06/05

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 04/05 - 06/05, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng - giảm nhẹ qua 3 phiên giao dịch. Phiên cuối tuần 29/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.130 VND/USD, giảm 10 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được NHNN giữ nguyên niêm yết ở mức 22.550 đồng. Tỷ giá bán kỳ hạn 3 tháng được duy trì niêm yết ở mức 23.050 VND/USD.

Tỷ giá LNH không có nhiều biến động. Chốt tuần 29/04, tỷ giá LNH đóng cửa tại 22.954 VND/USD, giảm nhẹ 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Trong khi đó, tỷ giá trên thị trường tự do vẫn tăng mạnh trong tuần qua. Chốt phiên cuối tuần 29/04, tỷ giá tự do tăng mạnh 130 đồng ở chiều mua vào và 180 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.580 VND/USD và 23.680 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 04/05 - 06/05, lãi suất VND LNH tiếp tục tăng ở hầu hết các kỳ hạn qua cả 3 phiên giao dịch. Chốt ngày 29/04, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 1,65% (+0,15 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 1W 2,0% (+0,02 đpt); 2W 2,13 (+0,01 đpt); 1M 2,21% (-0,03 đpt).

Lãi suất USD LNH tuần qua tiếp tục tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn. Chốt tuần 29/04, lãi suất USD LNH đóng cửa tăng 0,31 – 0,33 đpt ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: ON 0,77%; 1W 0,87%; 2W 0,94% và 1M 1,03%.

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 04/05 - 06/05, NHNN chào thầu 10.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố ở cả 3 phiên, đều với kỳ hạn 14 ngày, lãi suất 2,50%. Có 1.110,94 tỷ đồng trúng thầu trong tuần qua. Trong tuần có 1.731,61 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng 620,67 tỷ VND từ thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giảm xuống mức 5.414,09 tỷ VND.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.                   

Thị trường trái phiếu: Giao dịch trên thị trường sơ cấp rất trầm lắng. Ngày 04/05, KBNN gọi thầu 5.000 tỷ đồng TPCP ở các kỳ hạn từ 7 năm đến 20 năm, tuy nhiên phiên đấu thầu thất bại. Khối lượng đặt thầu ở mức 5.751 tỷ đồng, tỷ lệ đặt thầu/gọi thầu ở mức 1,2 lần. Vùng lãi suất đặt thầu cao nhất kỳ hạn 10 năm và 20 năm tăng mạnh từ 70 – 80 điểm so với phiên trước đó.

Trong tuần vừa qua từ 04-06/05 và trong tuần này từ 09-13/05 đều không có lượng TPCP đáo hạn. Về kế hoạch đấu thầu trong tuần này: ngày 09/05, NHCSXH dự kiến gọi thầu 3.000 tỷ đồng các kỳ hạn từ 3 năm đến 15 năm; tiếp đó ngày 11/05, KBNN dự kiến gọi thầu 4.500 tỷ đồng các kỳ hạn từ 10 năm đến 30 năm.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 9.370 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ so với mức 9.166 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP tăng khá ở các kỳ hạn. Chốt phiên 6/05, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 1,89% (+0,03 đpt); 2 năm 1,99% (+0,03 đpt); 3 năm 2,08% (+0,06 đpt); 5 năm 2,27% (+0,16đpt); 7 năm 2,61% (+0,1 đpt); 10 năm 3,08% (+0,09 đpt); 15 năm 3,22% (+0,07 đpt); 30 năm 3,29% (+0,02 đpt).           

Thị trường chứng khoán: Tuần từ 04/05 - 06/05, thị trường chứng khoán vẫn chưa thể hồi phục, tiếp tục giảm điểm mạnh ở cả 3 chỉ số. Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần 29/04, VN-Index đứng ở mức 1.329,26 điểm, tương ứng giảm 37,54 điểm (-2,75%) so với tuần trước đó; HNX-Index giảm 22,37 điểm (-6,11%) còn 343,46 điểm; UPCom-Index giảm 2,43 điểm (-2,33%) xuống 101,88 điểm.

Thanh khoản thị trường không cải thiện vẫn ở mức rất thấp, giá trị giao dịch trung bình trên 17.100 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại bán ròng gần 945 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Mỹ ghi nhận nhiều thông tin kinh tế quan trọng. Đầu tiên, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ do ISM khảo sát được lần lượt ở mức 55,4% và 57,1% trong tháng 4, giảm xuống từ 57,1% và 58,3% của tháng trước đó, trái với kỳ vọng tăng lên 57,5% và 58,5%. Ở thị trường lao động, nước Mỹ tạo ra 11,55 triệu cơ hội việc làm trong tháng 3, cao hơn mức 11,34 triệu của tháng 2 và đồng thời vượt qua mức 11,19 triệu theo dự báo.

Bên cạnh đó, quốc gia này tạo ra 428 nghìn việc làm phi nông nghiệp mới trong tháng 4, xấp xỉ mức 431 nghìn của tháng 3 và cao hơn so với mức 390 nghìn theo dự báo. Mặc dù vậy, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ trong tháng 4 vẫn ở mức 3,6%; không thay đổi so với tháng 3 và chưa tích cực như kỳ vọng giảm xuống 3,5%. Thu nhập bình quân tại Mỹ cũng chỉ tăng 0,3% m/m trong tháng 4 sau khi tăng 0,5% ở tháng trước đó, thấp hơn mức tăng 0,4% theo dự báo. Cuối cùng, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 30/04 ở mức 200 nghìn đơn, trái với dự báo đi ngang ở 180 nghìn như tuần trước đó.

NHTW Anh BOE tiếp tục tăng LSCS nhằm đối phó với lạm phát, ngoài ra nước này đón một số thông tin kinh tế trái chiều. Trong phiên họp ngày 05/05, BOE cho biết lạm phát của nước này đã tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, vượt xa so với lạm phát mục tiêu 2,0% trong trung hạn.

Theo đó, cơ quan này thông qua quyết định tăng LSCS 25 điểm cơ bản, lên mức 1,0% - là mức cao nhất được áp dụng kể từ năm 2009. BOE lo ngại lạm phát quá cao sẽ là yếu tố cản trở đà tăng trưởng kinh tế quốc nội. Liên quan tới chỉ báo kinh tế Anh, PMI lĩnh vực sản xuất của nước này chính thức ở mức 55,8 điểm trong tháng 4, cao hơn mức 55,3 điểm theo kết quả sơ bộ. Tiếp theo, giá nhà tại nước Anh tăng 1,1% m/m trong tháng 4 sáu khi tăng 1,5% ở tháng trước đó, cao hơn mức tăng 0,7% theo dự báo. Cuối cùng, doanh số bán lẻ tại nước Anh giảm 1,4% m/m trong tháng 3, nối tiếp đà giảm 0,5% ở tháng 2, sâu hơn nhiều so với mức giảm 0,3% theo dự báo.

Tỷ giá ngày 06/05: USD = 0.948 EUR (-0.10% d/d); EUR = 1.055 USD (0.10% d/d); USD = 0.811 GBP (0.22% d/d); GBP = 1.234 USD (-0.22% d/d); GBP = 1.169 EUR (-0.32% d/d); EUR = 0.855 GBP (0.32% d/d).

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650