Nợ công và những rủi ro lường trước

11:33 | 08/03/2021

Theo các chuyên gia kinh tế, nợ công như một đòn bẩy, nếu vận dụng tốt thì sẽ có lợi cho việc thúc đẩy nền kinh tế. Mặc dù hiện nợ công đã giảm dần và đã được quản lý chặt chẽ trong ngưỡng an toàn, nhưng cũng có một số rủi ro được lường trước.

no cong va nhung rui ro luong truoc Chấp nhận tăng nợ công để phục hồi kinh tế
no cong va nhung rui ro luong truoc Tăng cường kỷ luật tài chính để giảm bội chi, nợ công
no cong va nhung rui ro luong truoc Trong khó khăn, kết quả bội chi, nợ công vẫn là điểm sáng

Nợ công là một đòn bẩy

Số liệu của Bộ Tài chính và Chính phủ cho thấy rõ xu hướng giảm của nợ công trong giai đoạn 2016-2020. Nếu như năm 2016 tỷ lệ nợ công so với GDP là 63,7%, thì đến năm 2020 đã giảm còn 55,3%, thấp xa so với trần nợ công Quốc hội cho phép (là 65% GDP). Nợ công đã được kiểm soát chặt chẽ trong giới hạn an toàn; hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công tăng lên, đáp ứng kịp thời những nhu cầu cấp bách của nền kinh tế.

Theo dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 được Quốc hội phê duyệt, mức bội chi ngân sách nhà nước là 343.670 tỷ đồng, tương đương 4% GDP và tổng mức vay của ngân sách nhà nước là 608.569 tỷ đồng. Theo Bộ Tài chính dự toán, đến hết năm 2021, dự kiến nợ công 46,1% GDP điều chỉnh (tương ứng 58,6% GDP chưa điều chỉnh), nợ Chính phủ 41,9% GDP điều chỉnh (tương ứng 53,2% GDP chưa điều chỉnh).

no cong va nhung rui ro luong truoc
Tỷ lệ trả nợ trên thu ngân sách cũng là một con số rất quan trọng để đánh giá mức an toàn của nợ công

Khi dịch Covid-19 bùng phát, cả nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề, các chuyên gia cho rằng, tăng nợ công là một biện pháp cần thiết để phục hồi kinh tế miễn là trong khả năng trả nợ. “Nợ công cao - không sao cả nếu có danh mục nợ tối ưu, chi phí nợ hợp lý và nợ được sử dụng hiệu quả, nghĩa vụ trả nợ đảm bảo”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường - Học viện Tài chính cho biết.

"Nợ công như một đòn bẩy, nếu vận dụng tốt thì sẽ có lợi cho việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước", GS.TS. Andreas Stoffers - Giám đốc Quốc gia Quỹ Friedrich Naumann Foundation (FNF) tại Việt Nam. Đại dịch khiến Chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn để khắc phục hậu quả tiêu cực và hỗ trợ nền kinh tế. Do đó, con số nợ công sẽ tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng điều này vẫn rất tốt đối với nền kinh tế của Việt Nam. GS.TS. Andreas Stoffers cho rằng Việt Nam đã quản lý rất tốt nợ công, đã giảm mạnh tỷ lệ nợ công, đi ngược với xu hướng của thế giới, khi những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới tỷ lệ nợ công đang tăng rất nhanh.

Tuy nợ công và quản lý nợ công của Việt Nam được cả chuyên gia trong nước và quốc tế ghi nhận, quản lý tốt, nợ an toàn; nhưng cũng có những rủi ro đã nhìn thấy. Dễ thấy nhất là nghĩa vụ trả nợ đang tăng lên. Tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN giai đoạn 2016-2020 đã vượt ngưỡng 25% mà Quốc hội cho phép. Tuy nhiên sự vượt ngưỡng này chưa đáng lo vì nguyên nhân chủ yếu là do các khoản trái phiếu Chính phủ trong nước phát hành trong giai đoạn trước đây đáo hạn ở mức cao vào năm 2021 (187.001 tỷ đồng, chiếm 13,9% thu NSNN).

“Tỷ lệ trả nợ trên thu ngân sách cũng là một con số rất quan trọng để đánh giá mức an toàn của nợ công”, PGS.TS.Vũ Sỹ Cường nói. Song theo PGS.TS.Vũ Sỹ Cường tỷ lệ trả nợ của Việt Nam chưa phải ở mức cao.

Danh mục nợ tối ưu, chi phí nợ hợp lý

Đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp khiến kinh tế trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới cân đối ngân sách. Trong bối cảnh dư địa tăng thu ngân sách giai đoạn tới gặp khó khăn thì tỷ lệ trả nợ tăng nhanh, một mặt làm giảm mạnh dư địa cho nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên của NSNN. Mặt khác tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh tài chính quốc gia, có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ số tín nhiệm quốc gia. Áp lực cân đối thanh khoản, bố trí nguồn lực NSNN để trả nợ đến hạn (chủ yếu là nợ trái phiếu Chính phủ) là không nhỏ...

Bên cạnh đó, theo số liệu của Bộ Tài chính và Chính phủ, cơ cấu nợ đã có sự thay đổi tích cực. Nợ công đã được cơ cấu lại theo hướng bền vững hơn, tăng tỷ trọng huy động trong nước, kéo dài kỳ hạn nợ, giảm mạnh lãi suất huy động và chi phí vay, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia... Tuy nhiên danh mục nợ hiện tại vẫn tiềm ẩn rủi ro, kém thuận lợi hơn trước đây.

Chưa hết nợ công sẽ đối diện với rủi ro tái cấp vốn/thanh khoản. Trong đó rủi ro thanh khoản trong giai đoạn tới chủ yếu phát sinh từ các khoản nợ trong nước của Chính phủ do nghĩa vụ trả nợ đến hạn tập trung cao vào một số năm và một số thời điểm trong năm, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro thanh khoản cho NSNN.

Đối với danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ, trong giai đoạn tới, các khoản vay IDA từ Ngân hàng Thế giới (kể từ tháng 7/2021) và ADF từ Ngân hàng Phát triển châu Á (kể từ năm 2023) sẽ bắt đầu áp dụng điều khoản trả nợ nhanh, theo đó kỳ hạn trả nợ gốc rút ngắn còn một nửa so với điều kiện vay ban đầu. Trong 5 năm tới các khoản vay ODA cũng sẽ giảm dần, tiến đến kết thúc, dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn vay dài hạn, ưu đãi cao cho đầu tư phát triển… Ngoài ra, nợ công cũng phải lường rủi ro lãi suất.

Để bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, quan điểm chỉ đạo của Chính phủ và quan điểm điều hành của Bộ Tài chính là sẽ tiếp tục cơ cấu lại NSNN, nợ công, cải thiện dư địa chính sách tài khóa, tăng cường sức chống chịu của nền tài chính, đảm bảo an toàn, an ninh tài chính. Để giảm áp lực trả nợ thì sẽ giảm dần tỷ lệ bội chi NSNN, hướng tới cân bằng thu - chi NSNN, giảm áp lực huy động vốn vay. Các mục tiêu về tăng trưởng, bội chi, đầu tư công cần đảm bảo đồng bộ, thống nhất với mục tiêu an toàn nợ (bao gồm cả chỉ tiêu trần dư nợ cũng như chỉ tiêu trả nợ của Chính phủ/thu NSNN).

Song song với đó cần tích cực triển khai nghiệp vụ quản lý nợ chủ động đối với danh mục nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ (như hoán đổi, mua lại công cụ nợ trước hạn…) phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần giãn nghĩa vụ trả nợ gốc qua các năm, giảm áp lực thanh khoản cho NSNN. Đối với các khoản vay mới, cần tính toán sử dụng công cụ nợ với kỳ hạn phù hợp để giãn lịch trả nợ gốc đều qua các năm, tránh tình trạng nghĩa vụ trả nợ gốc tập trung cao vào một số thời điểm.

Tại cuộc họp của Thường trực Chính phủ thảo luận dự thảo Báo cáo Quốc hội về tình hình vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch vay và trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025, Thủ tướng đã yêu cầu phải tính toán kỹ mức trần nợ công, nợ công phải bảo đảm tính chủ động, tích cực, vừa thúc đẩy phát triển đất nước, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.

Tri Nhân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.320 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.035 23.315 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.015 23.315 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.010 23.310 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.060 23.270 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.060 23.280 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.032 23.600 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.031 23.322 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.050 23.290 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.090 23.280 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
69.000
69.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
69.000
69.900
Vàng SJC 5c
69.000
69.920
Vàng nhẫn 9999
54.350
55.300
Vàng nữ trang 9999
54.100
54.900