Thu hồi nợ xấu bằng tiền tăng nhanh

09:41 | 15/01/2020

Trong báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM năm 2019, NHNN chi nhánh TP.HCM có thống kê kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Quốc hội (Nghị quyết 42).

Thúc xử lý nợ xấu hiệu quả hơn
Xử lý nợ xấu còn những rào cản
Ảnh minh họa

Theo đó, tính đến hết tháng 11/2019 có đến 44.600 tỷ đồng nợ xấu các ngân hàng xử lý thu bằng tiền, chiếm 44,8% tổng nợ xấu xử lý được, tăng 51% so với năm 2018. NHNN Chi nhánh TP.HCM đánh giá đây là xu hướng tích cực khi xét trên yếu tố khách quan có yếu tố thị trường hàng hóa, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán… tiếp tục tăng trưởng và phát triển ổn định, đã tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng trên địa bàn kiểm soát và xử lý nợ xấu thu bằng tiền. 

Bên cạnh đó, xu hướng thị trường cũng giúp các ngân hàng xử lý nợ xấu tốt hơn, khi trong năm qua của hệ thống ngân hàng có kết quả kinh doanh khả quan nên nợ xấu được kiểm soát. Chẳng hạn như HDBank, trong 11 tháng năm 2019, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng này đạt hơn 153.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 5.018 tỷ đồng.

Bên cạnh xử lý nợ xấu, công tác cơ cấu các tổ chức tín dụng theo Quyết định 1058 của Chính phủ cũng đạt được nhiều kết quả tích cực. Đơn cử thời gian qua các ngân hàng khắc phục được những hạn chế về bộ máy và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và xử lý nợ xấu triệt để hơn. Những điều này đã góp phần quan trọng trong việc giữ ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động của từng ngân hàng. Hoạt động xử lý nợ xấu hiệu quả hơn được các ngân hàng nhấn mạnh đến yếu tố cơ cấu hoạt động kinh doanh, cơ cấu sản phẩm dịch vụ trên cơ sở xây dựng thương hiệu trên thị trường tài chính trong xu hướng công nghệ hóa.

Khi hoạt động kinh doanh ổn định, năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng được cải thiện, tổng tài sản của riêng 12 NHTM có hội sở ở TP.HCM trong năm qua đã tăng 13,53% so với năm 2018; vốn điều lệ của nhóm ngân hàng này cũng tăng 6,43%; huy động vốn tăng 13,47%; dư nợ tín dụng tăng 13,16%; nợ xấu chỉ chiếm 1,63% tổng dư nợ nhóm ngân hàng này. 

Một số tổ chức tín dụng không ngừng cải thiện vị trí cạnh tranh và xây dựng được thương hiệu trên thị trường tài chính trong nước, khu vực và quốc tế như VIB, ACB... Trong đó cạnh tranh thu hút khách hàng bằng tiện ích sản phẩm, giảm giá dịch vụ và bằng phong cách giao dịch, văn hóa giao tiếp... những vấn đề cốt lõi của cải cách hành chính trong hoạt động ngân hàng đã được các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP.HCM triển khai mạnh mẽ. 

Đặc biệt, dịch vụ ngân hàng phát triển gắn với mở rộng các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt lĩnh vực cung cấp dịch vụ công và thanh toán tiêu dùng qua ví điện tử, hay cung ứng dịch vụ thanh toán hàng hóa thiết yếu ở siêu thị, xăng dầu… Việc các ngân hàng tích cực đẩy mạnh các dịch vụ thanh toán hiện đại đã hỗ trợ cho thương mại điện tử phát triển và đề án xây dựng thành phố thông minh của chính quyền TP.HCM trong năm 2019 và trong thời gian tới.

Tuy nhiên, trong một thị trường sôi động với hơn 450 chi nhánh cấp 1 đóng trên địa bàn như TP.HCM thì công tác thanh tra giám sát ngân hàng cũng cần phải được nâng cao hơn một bước. Muốn vậy, cần phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra, giám sát mới có thể giải quyết được một khối lượng công việc rất lớn.

Bên cạnh đó, phải tăng cường công tác giám sát từ xa mới có thể ra những cảnh báo sớm về những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Bởi chất lượng tín dụng và kiểm soát nợ xấu vẫn luôn là vấn đề cốt lõi, quan trọng và có tác động ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả hoạt động của các tổ chức tín dụng hiện nay ở Việt Nam.

Duy Đông

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530