Chỉ số kinh tế:
Ngày 22/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.125 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.919/26.331 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
dai-hoi-dang

Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ II - Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu Gia Long (1802-1819), miếu hiệu khi mất là Thế Tổ. Năm 1803, nhà vua cho đúc tiền đồng Gia Long thông bảo. Sách Đại Nam thực lục chép: “Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 [1803]…
aa

Tiền các đời vua triều Nguyễn giai đoạn 1802 - 1883

Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)

a. Tiền đồng

Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu Gia Long (1802-1819), miếu hiệu khi mất là Thế Tổ. Năm 1803, nhà vua cho đúc tiền đồng Gia Long thông bảo. Sách Đại Nam thực lục chép: “Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 [1803]… Tháng 6,…Bắt đầu đúc tiền Gia Long thông bảo. Sai cai đội Cáp Văn Cẩn trông coi công việc. Đúc xong đưa 1.000 đồng ra Bắc Thành để đúc theo cho có quy thức nhất định. (Mẫu tiền, mỗi đồng đường kính 5 phân 5 ly, mỗi quan tiền nặng 2 cân 4 lạng”.

Tiền đồng Gia Long thông bảo 嘉隆通寳 có nhiều loại và nhiều kích cỡ khác nhau:

- Tiền Gia Long thông bảo 嘉隆通寳, lưng trơn

Loại tiền này đúc nhiều lần ở nhiều nơi. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Gia Long thông bảo”- 嘉隆通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Khổ chữ to, nét chữ mảnh, rõ ràng và sắc nét. Lưng tiền để trơn. Biên trước và sau đều hẹp và nổi rõ. Tiền rất mỏng. Tiền có đường kính 22,3-26 mm, dày 0,8-1,1mm, nặng 1,8 - 4,3gr.

Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ II - Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)
Ảnh 1.11.1.Tiền Gia Long thông bảo 嘉隆通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền trơn, đk 22,3-26mm
Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ II - Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)
Ảnh 1.11.2. Tiền Gia Long thông bảo 嘉隆通寳, kiểu Chân thư - Lưng tiền đúc 2 chữ “Thất phân”-七分, đk 23mm

-Tiền Gia Long thông bảo 嘉隆通寳, lưng có chữ “Thất phân”-七分 đúc năm 1813.

“Quý Dậu, Gia Long năm thứ 12 [1813], mùa xuân, tháng giêng…Bắt đầu đúc tiền kẽm nặng 7 phân hiệu “Gia Long thông bảo”. Ở Bắc Thành có người Thanh là Trần Hiển Chu và Chu Vĩnh Cát xin tự mua kẽm để đúc tiền, lấy tiền kẽm 130 quan đổi lấy 100 quan tiền đồng ở kho. Thành thần đem việc tâu lên. Vua y lời xin. Sai đặt cục Bảo Tuyền ở cửa Tây Long ngoài thành. (Năm Thiệu Trị thứ 1, đổi làm cục Thông bảo). Lấy Cai cơ Trương Văn Minh làm Bảo tuyền cục đại sứ, Hiệp tổng trấn Lê Chất kiêm lãnh Giám đốc. Theo kiểu mẫu bộ Hộ đưa ra để đúc (tiền 1 quan, nặng 2 cân 10 lạng cân bình thiên, người dân có vốn riêng hoặc lãnh vốn công đều đem đến lò đúc để đúc. Khi thành tiền rồi, cứ 125 quan tiền kẽm đổi được 100 quan tiền đồng. Tiền mỗi quan phải đúng cân lạng, nếu thiếu từ 15 đồng trở xuống thì cho nộp phụ; 16 đồng trở lên thì huỷ đi không dùng. Pha lẫn chì thì có tội. Nhà nước đúc bằng kẽm Thái Nguyên, mỗi 100 cân hao 12 cân 8 lạng, thành tiền 33 quan 3 tiền 20 đồng, tiền vật liệu 6 tiền 13 đồng, tiền công thợ 2 quan 7 tiền 41 đồng, đại ước thành tiền, mỗi 100 đồng thì tiền công 8 đồng 2 phân 4 ly hào, 5 hốt”

Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Gia Long thông bảo”- 嘉隆通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Khổ chữ to, nét chữ mảnh, rõ ràng và sắc nét. Lưng tiền đúc nổi 2 chữ “Thất phân” -七分 theo kiểu Chân thư ở hai bên lỗ vuông. Biên trước và sau đều hẹp và nổi rõ. Tiền khá mỏng. Đường kính 23mm, dày 1mm, nặng 1,8gr.

Mặc dù, trong thư tịch chỉ ghi đúc tiền kẽm, nhưng trong thực tế, phát hiện cả tiền đồng. Đường kính tiền có khác biệt, chứng tỏ tiền được đúc nhiều lần.

Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ II - Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)
Ảnh 1.11.3. Tiền Gia Long thông bảo 嘉隆通寳 kiểu Chân thư, lưng tiền đúc hai chữ “Lục phân”- 六分 kiểu Triện thư, đk 23mm

- Tiền Gia Long thông bảo 嘉隆通寳, lưng tiền có hai chữ “Lục phân”- 六分, đúc năm 1814

“Giáp Tuất, Gia Long năm thứ 13 [1814]... Tháng 2... Đúc tiền đồng 6 phân hiệu “Gia Long thông bảo”. Sai cục Bảo tuyền Bắc Thành phỏng theo phép đúc tiền của nước Thanh mà làm. (Chỉ đồng đỏ 500 cân, kẽm 415 cân, chì 65 cân, thiếc 20 cân”.

Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Gia Long thông bảo”- 嘉隆通寶 theo thể Chân thư, đọc chéo. Khổ chữ to, nét chữ đậm, rõ ràng. Lưng tiền đúc nổi 2 chữ “Lục phân”- 六分 theo kiểu Triện thư ở hai bên lỗ vuông. Biên trước và sau đều hẹp và nổi rõ. Tiền khá mỏng. Đường kính 22-23mm, dày 1mm, nặng 1,8gr. Tiền đúc nhiều nơi, nhiều lần, có loại bằng đồng, có loại bằng kẽm.

Tiền đúc dưới đời vua Gia Long được phát hiện nhiều nơi, số lượng cũng khá lớn. Ở trong kho không phải đếm từng đồng mà có thước đong làm bằng gỗ có 2 ngăn. Bỏ tiền đầy hai ngăn là 1 quan (600 đồng) rồi lấy dây xâu lại. Đây là thước đong tiền đời vua Gia Long.

Đón đọc Kỳ III: Thoi bạc Gia Long


Nguồn: Tác phẩm: ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biên tập: Mạnh - Thắng | Đồ họa: Văn Lâm

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ II

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ II

Cũng trong tháng 10 năm 1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tập trung một số họa sĩ (Nguyễn Huyến, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Lê Phả…) bắt đầu vẽ và in những tờ giấy bạc Việt Nam đầu tiên. Sau đó, các loại giấy bạc mệnh giá 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng được in ấn và phát hành từ năm 1945 đến năm 1951.
Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ I

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ I

Cũng trong tháng 10 năm 1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tập trung một số họa sĩ (Nguyễn Huyến, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Lê Phả…) bắt đầu vẽ và in những tờ giấy bạc Việt Nam đầu tiên. Sau đó, các loại giấy bạc mệnh giá 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng được in ấn và phát hành từ năm 1945 đến năm 1951.
Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Tài chính có cả tiền kim loại và tiền giấy, được Bộ Tài chính phát hành từ năm 1945 đến năm 1951 ở khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (bao gồm các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tiền tài chính lấy đồng làm đơn vị tiền tệ, không sử dụng đơn vị tiền tệ của Pháp. Những đồng tiền tài chính này của Chính phủ Trung ương được gọi là Tiền Tài chính hay Tiền Trung ương.
Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng gặp phải vô vàn khó khăn, thử thách, trong đó có nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế và tài chính tiền tệ cần được giải quyết kịp thời. Ngân khố Trung ương lúc bấy giờ chỉ còn vẻn vẹn 1.230.720 đồng Đông Dương, trong đó có 586.000 đồng tiền lẻ rách nát chờ tiêu hủy.
Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ II

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ II

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền sau đây cung cấp các tiêu chí, tiêu chuẩn để xác định tờ tiền trong lưu thông thành tiền đủ/không đủ tiêu chuẩn lưu thông (KĐTCLT) đối với 6 mệnh giá tiền polymer 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ khi phân loại bằng máy kiểm đếm, phân loại tiền.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ II

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ II

Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ I

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ I

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền sau đây cung cấp các tiêu chí, tiêu chuẩn để xác định tờ tiền trong lưu thông thành tiền đủ/không đủ tiêu chuẩn lưu thông (KĐTCLT) đối với 6 mệnh giá tiền polymer 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ khi phân loại bằng máy kiểm đếm, phân loại tiền.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2