09:20 | 29/05/2019

CPI tháng 5/2019 tăng 0,49% so với tháng trước

Con số trên vừa được Tổng cục Thống kê công bố, cho thấy mặt bằng giá chung đang có sự xáo trộn lớn. Tháng trước, xăng dầu và điện tác động mạnh đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), và tháng này tiếp tục tăng cao hơn mức tăng của tháng trước, nguyên nhân tiếp tục liên quan đến điện và xăng dầu.

Xăng, điện ‘tập kích’ CPI tháng 4/2019
Không thể chủ quan với lạm phát
Giá điện tăng 8,36%, CPI vẫn nằm trong vòng kiểm soát

Với kết quả CPI tháng 5/2019 tăng 0,49% so với tháng trước, CPI tháng 5/2019 tăng 1,5% so với tháng 12/2018 và tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước.

CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2019 bị đẩy lên mức tăng 2,74% so với cùng kỳ năm 2018, từ mức 2,71% của 4 tháng đầu năm. Tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng bình quân 5 tháng đầu năm thấp nhất trong 3 năm trở lại đây.

Trong mức tăng 0,49% của CPI tháng 5/2019 so với tháng trước có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, đáng chú ý là việc giá xăng dầu tăng cùng với điện tăng do sản lượng tiêu thụ cao đã ảnh hưởng tới tăng chỉ số giá tiêu dùng trong tháng này.

Theo đó, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất 2,64% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 2/5/2019, tác động làm CPI chung tăng 0,25%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,28% chủ yếu do giá điện sinh hoạt tăng 6,86%; cùng với đó là giá gas tăng 0,6%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,66% và giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,54%.

Một số nhóm khác tác động làm tăng CPI tháng này gồm: nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1%. Nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống và nhóm giáo dục cùng tăng 0,05% (dịch vụ giáo dục tăng 0,01%)…

Ở chiều ngược lại, hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,06% (dịch vụ y tế giảm 0,1%); bưu chính viễn thông giảm 0,05%.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 5/2019 tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm nay tăng 1,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

“Việc kiên định chính sách tiền tệ linh hoạt giữ vững mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ góp phần kiểm soát lạm phát”, Tổng cục Thống kê đánh giá.

 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.160
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.160
41.420
Vàng SJC 5c
41.160
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.140
41.590
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420