07:30 | 08/07/2019

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 1-5/7

Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 14.000 tỷ đồng. VN-Index đứng ở mức 975,34 điểm, tăng 25,4 điểm (+2,67%); HNX-Index tăng 0,87 điểm (+0,84%), lên mức 104,38 điểm; UPCOM-Index tăng 0,73 điểm (+1,31%) lên 56,38 điểm. Thanh khoản thị ở mức tương đối thấp. Khối ngoại mua ròng hơn 30 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/7
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/7
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/7
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 1/7

Tổng quan

Ngày 30/6 vừa qua, Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức được ký kết tại Hà Nội. Đây là thỏa thuận mậu dịch tự do thứ hai EU ký với một nước tại Đông Nam Á, trước đó là Singapore.

Để đi tới việc ký kết EVFTA và EVIPA là một quá trình nhiều năm và hiện vẫn còn 1 nút thắt cuối cùng trước khi 2 hiệp định này chính thức hiệu lực. Được khởi động từ tháng 6/2012, đến cuối năm 2015, Việt Nam và EU đã sơ bộ quá trình đàm phán và tích cực thực hiện công tác rà soát pháp lý nhằm tiến tới sớm ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, đến tháng 9/2017, EU đưa ra một định dạng mới cho hiệp định sẽ ký kết với Việt Nam, trong đó đề xuất tách FTA thành 2 hiệp định độc lập là EVFTA và EVIPA.

Sau nhiều lần trì hoãn, ngày 30/6/2019, 2 hiệp định đã được chính thức ký kết tại Hà Nội, tuy nhiên đây vẫn chưa phải thời điểm hiệu lực chính thức. Tới đây, hai hiệp định sẽ tiếp tục được trình lên Nghị viện châu Âu (EP) và nghị viện của 28 nước thành viên bỏ phiếu thông qua trước khi chính thức có hiệu lực.

Theo Đại sứ quán - Phái đoàn Việt Nam tại Bỉ - EU, dự kiến Nghị viện cChâu Âu có thể sẽ xem xét 2 Hiệp định vào tháng 9 hoặc 10/2019 và bỏ phiếu phê chuẩn cuối năm 2019 hoặc đầu 2020.

Hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam - EU sẽ đạt được những bước tiến mới khi các ưu đãi về thuế quan được thực hiện. EU cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU ngay thời điểm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Sau đó 7 năm, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các FTA đã được ký kết.

Tương tự như vậy, đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu.

Hiện tại, EU là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 sau Hoa Kỳ. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU đạt 55,77 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 41,88 tỷ USD, tăng 9,42%; còn kim ngạch nhập khẩu đạt 13,89 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2017.

5 tháng đầu năm 2019, cán cân TM Việt Nam - EU tiếp tục thặng dư 5,8 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU chiếm tỷ trọng 16,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, còn nhập khẩu chiếm tỷ trọng 5,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong 5 tháng qua.

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường EU là các sản phẩm truyền thống dựa trên lợi thế lao động như hàng dệt may, giày dép các loại, cà phê, hải sản, máy vi tính. Trong khi đó, Việt Nam nhập khẩu từ từ EU chủ yếu là máy móc - thiết bị - dụng cụ, dược phẩm, sữa và sản phẩm từ sữa.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ trong tuần từ 1-5/7, tỷ giá trung tâm giảm trong hai phiên đầu tuần, sau đó tăng nhẹ trở lại. Ngày cuối tuần 5/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.061 VND/USD, giảm 5 đồng so với cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay vẫn được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.200 VND/USD. Tỷ giá bán ra được niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, phiên cuối tuần ở mức 23.703 VND/USD.

Tỷ giá liên ngân hàng nhìn chung trong xu hướng giảm dần qua các phiên. Chốt cuối tuần ngày 5/7, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.238 VND/USD, giảm mạnh 74 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do diễn biến cùng xu hướng với tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng. Kết thúc ngày 5/7, tỷ giá tự do đóng cửa tại 23.220 - 23.250 VND/USD, giảm 70 đồng ở cả chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng trong tuần từ 1-5/7, lãi suất liên ngân hàng VND đồng loạt giảm ở tất cả các kỳ hạn so với cuối tuần trước đó. Chốt cuối tuần 5/7, lãi suất liên ngân hàng VND giao dịch quanh mức: qua đêm 3,27% (-0,70 điểm phần trăm); 1 tuần 3,42% (-0,60 điểm phần trăm); 2 tuần 3,55% (-0,50% điểm phần trăm); 1 tháng 3,73% (-0,50 điểm phần trăm).

Lãi suất liên ngân hàng USD ít biến động so cuối tuần trước đó. Chốt tuần 05/07, lãi suất đứng ở mức: qua đêm 2,51% (không đổi); 1 tuần 2,56% (-0,03 điểm phần trăm), 2 tuần 2,65% (-0,03 điểm phần trăm) và 1 tháng 2,77% (-0,03 điểm phần trăm).

Thị trường mở trong tuần từ 1-5/7, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 35.000 tỷ đồng tín phiếu, tăng nhẹ 2.000 tỷ đồng so với tuần trước đó. Kỳ hạn tín phiếu vẫn ở mức 7 ngày, lãi suất 3%/năm.

Kết quả, các tổ chức tín dụng hấp thụ toàn bộ khối lượng chào thầu. Trong tuần có 32.999 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường tăng lên mức 35.000 tỷ đồng.

Kênh cầm cố không phát sinh giao dịch mặc dù Ngân hàng Nhà nước vẫn đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%/năm. Trong tuần có 12.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này, đưa khối lượng lưu hành về mức 0.

Như vậy, trong tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng nhẹ 14.000 tỷ đồng từ thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở.

Thị trường trái phiếu trong tuần qua, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 3.757/4.500 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 83%). Trong đó, nhà đầu tư tiếp tục quan tâm đến các trái phiếu kỳ hạn dài trên 10 năm.

Cụ thể, kỳ hạn 10 năm và 15 năm huy động thành công toàn bộ 1.500 tỷ đồng gọi thầu mỗi loại. Kỳ hạn 20 năm huy động thành công 757/1.000 tỷ đồng gọi thầu. Riêng kỳ hạn 5 năm vẫn không có khối lượng trúng thầu kể từ ngày 9/5/2019.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm, 15 năm và 20 năm lần lượt tại 4,62%/năm (giảm 3 điểm); 4,94%/năm (giảm 6 điểm) và 5,42%/năm (giảm 16 điểm). Vùng lãi suất đặt thầu thấp nhất - cao nhất của các thành viên tham gia đấu thầu đều giảm từ 6 - 20 điểm so với phiên trước, ở tùy từng kỳ hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trung bình trên thị trường tuần qua đạt khoảng 6.348 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh so mức 11.400 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Chốt phiên 5/7, lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp ít biến động so với cuối tuần trước đó.

Cụ thể, lợi suất trái phiếu Chính phủ giao dịch quanh: 1 năm 3,14% (-0,04 điểm phần trăm); 2 năm 3,37% (-0,1 điểm phần trăm); 3 năm 3,51% (-0,08 điểm phần trăm); 5 năm 3,8% (-0,07 điểm phần trăm); 7 năm 4,16% (không đổi); 10 năm 4,6% (-0,06 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán trong tuần có những diễn biến tích cực, cả ba sản đều tăng điểm so với cuối tuần trước đó. Chốt tuần 5/7, VN-Index đứng ở mức 975,34 điểm, tăng 25,4 điểm (+2,67%); HNX-Index tăng 0,87 điểm (+0,84%), lên mức 104,38 điểm; UPCOM-Index tăng 0,73 điểm (+1,31%) lên 56,38 điểm.

Thanh khoản thị ở mức tương đối thấp với giá trị giao dịch hơn 3700 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại giao dịch cẩn trọng, mua ròng hơn 30 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Sau cuộc gặp bên lề Mỹ - Trung tại Hội nghị thượng đỉnh G20, hai bên cho biết sẽ nối lại các cuộc đàm phán và Tổng thống Mỹ Donald Trump hoãn kế hoạch áp thuế bổ sung lên 300 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đến vô thời hạn. Tuy nhiên trong tuần vừa qua, ông Trump viết trên trang cá nhân cho rằng Trung Quốc và châu Âu đang chơi trò chơi thao túng tiền tệ.

Ở chiều ngược lại, Bộ Thương mại Trung Quốc nhấn mạnh sẽ chỉ có thỏa thuận khi các mức thuế bổ sung mà hai nước áp lên hàng hóa của nhau được dỡ bỏ.

Mặc cho các phát ngôn cứng rắn qua lại liên tiếp, cố vẫn thương mại Nhà Trắng cho biết cả hai sẽ có cuộc đàm phán thương mại trong tuần này. Các quan chức Mỹ nhận định cuộc đàm phán cần có thời gian, và hai bên sẽ đưa tình hình đi theo đúng hướng.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed cảnh báo chiến tranh thương mại đang làm hạn chế sự đầu tư của các doanh nghiệp, hoạt động chế tạo bị giảm sút và ảnh hưởng nặng nề đến tăng trưởng kinh tế. Cho tới hiện tại, phần lớn thị trường kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 0,25 điểm phần trăm vào cuộc họp diễn ra cuối tháng 7.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.252 26.120 28.256 28.739 205,12 218,40
BIDV 23.140 23.260 25.318 26.060 28.332 28.873 211,15 218,07
VietinBank 23.126 23.256 25.250 26.115 28.204 28.844 214,19 220,19
Agribank 23.165 23.250 25.269 25.659 28.291 28.761 214,73 218,65
Eximbank 23.140 23.250 25.276 25.625 28.385 28.777 215,58 218,57
ACB 23.130 23.250 25.282 25.630 28.439 28.759 215,46 218,43
Sacombank 23.100 23.260 25.285 25.738 28.394 28.799 214,69 219,21
Techcombank 23.132 23.272 25.049 26.043 28.054 28.957 214,00 221,26
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.215 25.687 28.407 28.831 215,21 219,20
DongA Bank 23.160 23.250 25.300 25.610 28.360 28.740 212,00 217,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.850
42.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.850
42.100
Vàng SJC 5c
41.850
42.120
Vàng nhẫn 9999
41.800
42.250
Vàng nữ trang 9999
41.300
42.100