14:49 | 12/07/2019

Kinh tế 2019: Điều hành và cải cách đứng trước đòi hỏi và thách thức mới

Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), năm 2019, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt 6,82%; tăng trưởng xuất khẩu dự báo khoảng 8,02% với thặng dư thương mại 0,8 tỷ USD; lạm phát bình quân tăng 3,38%...

Nỗ lực cho tăng trưởng cao hơn
Lo cho tăng trưởng kinh tế dài hạn
Kinh tế nửa cuối năm đối mặt nhiều khó khăn

Bức tranh kinh tế 2019 theo dự báo của CIEM, được đưa ra tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019: Kết quả và Góc nhìn” diễn ra sáng nay, 12/7, cho thấy năm nay, nước ta có thể đạt được hầu hết mục tiêu kế hoạch đã đề ra - một góc nhìn đầy tích cực.

Hàng xuất khẩu của Việt Nam được dự báo có thể tiếp tục gặp phải nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại, điều tra chống lẩn tránh thuế, gian lận xuất xứ...

Điểm lại kết quả đạt được 6 tháng đầu năm, CIEM lưu ý rằng tăng trưởng GDP quý II đạt thấp hơn quý I nhưng vẫn là tương đối cao so với các nước trong khu vực, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những đổi thay khá nhanh và khó đoán định.

Theo CIEM, có được kết quả này là do công tác điều hành chính sách, cải cách kinh tế của đất nước cũng xuất hiện không ít điểm sáng. Trong đó, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo tập trung tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh; yêu cầu các bộ, ngành chủ động theo dõi, cập nhật và dự báo những diễn biến từ bên ngoài được thực hiện thường xuyên hơn.

So với giai đoạn kinh tế suy giảm những năm 2008-2009, CIEM đánh giá Việt Nam hiện đã có thêm kinh nghiệm và bình tĩnh hơn để ứng phó với tác động bất lợi từ những diễn biến xấu của kinh tế thế giới.

“Có thể xuất phát từ môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện và Việt Nam đã đi vào thực hiện CPTPP và chuẩn bị cho việc thực hiện EVFTA”, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp CIEM, nói. “Nhiều nhà đầu tư nước ngoài nhìn nhận Việt Nam gia tăng sự hấp dẫn tương đối trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung”.

Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện CPTPP và vận động ký kết EVFTA, theo ghi nhận của CIEM, cũng có những chuyển biến mới. Đồng hành với những chuyển biến này, sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp có phần rõ nét hơn. Các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá lạc quan hơn về tình hình sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên bên cạnh đó, báo cáo cũng cho rằng thực tiễn cải cách và điều hành chính sách trong 6 tháng đầu năm 2019 vẫn bộc lộ một số hạn chế. Trước hết, sự lưu tâm đối với cải cách môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 02 ít nhiều đã giảm sút.

Năng suất và chất lượng lao động được đề cập nhiều, song tính mới và cụ thể trong các đề xuất chính sách và cơ chế thực thi còn hạn chế, trong bối cảnh sự đối đầu giữa các công nghệ mới và tư duy quản lý truyền thống ngày một phức tạp hơn.

Nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế chưa được truyền tải vào hệ thống chính sách, quy định trong nước. Sự hứng khởi với EVFTA và EVIPA chưa đi kèm với tâm thế chuẩn bị cho các cải cách thể chế kinh tế liên quan. Việc chuẩn bị cho CPTPP còn chậm, dù Hiệp định này đã thực thi.

Và có một biểu hiện được chỉ ra đó là một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp, người dân có tâm lý bài trừ cực đoan đối với hàng hóa, vốn đầu tư từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong bối cảnh hiệu quả giải trình chính sách còn chậm được cải thiện, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cân nhắc, điều chỉnh chính sách của một số bộ, ngành…

Trong bối cảnh dự báo hàng xuất khẩu của Việt Nam được dự báo có thể tiếp tục gặp phải nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại, điều tra chống lẩn tránh thuế, gian lận xuất xứ... thì đây cũng là một thách thức nữa cho điều hành chính sách.

Từ đó, Hội thảo nhấn mạnh lại thông điệp: Chính sách cần tiếp tục tập trung vào cải thiện nền tảng kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế và xử lý hiệu quả những rủi ro trong môi trường kinh tế quốc tế đầy biến động.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700