17:00 | 10/01/2018

Thắng lợi kép của tăng trưởng

Trong năm 2018, lạm phát các tháng sẽ có xu hướng tăng lên trong nửa đầu năm, nhưng sẽ giảm xuống vào cuối năm, dù ít khả năng có các cú sốc (cả trong và ngoài nước) nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây bất lợi đến kiểm soát lạm phát.

Năm 2017 tín dụng tăng 18,17%; dự kiến năm 2018 tín dụng tăng 17%
Không vội hứng khởi quá đà với tăng trưởng
Làm cách nào để tăng trưởng cao, tăng trưởng nhanh nhưng bền vững?

Lạm phát ở mức thấp còn kéo dài

“Nền kinh tế Việt Nam năm 2017 đã có một năm thắng lợi kép”, khi kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, tăng trưởng GDP đạt tới 6,81% vượt mục tiêu 6,7%, lạm phát chỉ tăng 3,53% thấp hơn mức 4% mà Quốc hội cho phép, PGS.TS. Ngô Trí Long (nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả) bình luận.

Ảnh minh họa

Nhưng nền kinh tế 2018 liệu có tiếp tục đà bứt phá của năm 2017? Năm 2018 đã sang với nhiều dự báo khả quan phần do ngoại cảnh được dự báo có nhiều thuận lợi hơn, phần do phía chủ quan, nền kinh tế tiếp tục được phát triển. Quốc hội đã giao nhiệm vụ năm nay tăng trưởng phải đạt 6,7%, kiềm chế lạm phát không cho tăng quá 4%. Đến nay phần lớn các dự báo cho rằng sẽ đạt được các chỉ tiêu mà Quốc hội giao.

Về diễn biến thị trường giá cả và lạm phát, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính cho biết tình trạng lạm phát thấp đã xuất hiện từ vài năm trở lại đây do tốc độ tăng chi tiêu ngân sách và tốc độ tăng cung tiền trong giai đoạn 2012-2017 đã giảm đi nhiều so với giai đoạn 2007-2011. Nếu không tính giá dịch vụ y tế, lạm phát so với cùng kỳ năm trước của tháng 12/2017 chỉ khoảng 1,16% - mức rất thấp trong lịch sử và tương đương với mức lạm phát cơ bản. Ông khá chắc chắn vào dự báo lạm phát tiếp tục ở mức thấp của mình sẽ còn kéo dài, và đến năm 2020 chưa có yếu tố nào đủ đột biến để đẩy lạm phát lên cao.

Việc lạm phát cơ bản, tính trung bình trong 3 tháng cuối năm 2017, đã hạ xuống mức dưới 0,1%/tháng cho thấy áp lực lạm phát từ phía tổng cầu hiện nay là rất thấp. Và từ năm 2018 khả năng Chính phủ sẽ không điều chỉnh mạnh giá các dịch vụ do Nhà nước quản lý bằng biện pháp hành chính vì lộ trình điều chỉnh giá về cơ bản đã hoàn thành. Còn giá dầu cũng sẽ khó có thể tăng mạnh khi Fed tăng lãi suất và ECB cũng có xu hướng giảm dần các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế.

Và với xu hướng điều hành tài khóa và tiền tệ như Chính phủ đã xác định, lạm phát trong thời gian tới sẽ tiếp tục xu hướng duy trì ở mức thấp như trong những năm gần đây và phần giá tăng là do phụ thuộc vào giá thế giới và do nếu tăng giá dịch vụ y tế, giáo dục, giá dầu, giá lương thực…

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của ông Nguyễn Đức Độ

Áp lực và nguy cơ tiềm ẩn

Nhưng khó khăn, thách thức của nền kinh tế đang đặt ra vẫn còn nhiều nếu không kịp thời có giải pháp để vượt qua, thì khó khăn sẽ đè nặng lên nền kinh tế trong năm 2018.

Ông Long cũng dự báo năm 2018, các chỉ tiêu Quốc hội đặt ra cũng sẽ đạt được. Nhưng kiểm soát lạm phát trong bối cảnh tăng trưởng 6,5 - 6,7% trên nền tăng trưởng cao của GDP năm 2017 là không hề dễ, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế trong nước còn khó khăn, nhiều động lực cho tăng trưởng đã tới hạn.

Dự báo ngắn hạn, ông Độ cho rằng: nếu các tháng cuối năm 2018 Chính phủ không điều chỉnh giá dịch vụ y tế, giáo dục, thì lạm phát sẽ giảm mạnh, vào khoảng 2,6%, cách tương đối xa so với mục tiêu 4% được Quốc hội thông qua và kỳ vọng rằng lạm phát trong thời gian tới sẽ tiếp tục thấp, xoay quanh mức khoảng 1%, theo ông Độ. 

Ông Nguyễn Tiến Thỏa (Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Thẩm định giá Việt Nam – nguyên Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) dự báo có nhiều áp lực, tiềm ẩn nguy cơ đẩy lạm phát cao như: mở rộng tín dụng, tỷ giá, tác động vòng tiếp theo của việc điều chỉnh giá điện, thực hiện lộ trình lương tối thiểu, lộ trình giá thị trường đối với một số giá hàng hóa dịch vụ Nhà nước còn định giá… Chưa kể nếu có thiên tai, dịch bệnh…

Theo tính toán của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), nếu năm 2018 tiếp tục lộ trình tăng giá dịch vụ y tế tăng khoảng 4% sẽ tác động vào CPI khoảng 0,14%, giá dịch vụ giáo dục tăng 8% - 10% sẽ tác động vào CPI khoảng 0,3% và tác động từ việc tăng giá điện hồi tháng 12/2017 lên CPI năm 2018 khoảng 0,1% và tác động gián tiếp tới giá thành các mặt hàng khác sử dụng điện là chi phí đầu vào. Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng và mức lương cơ sở năm 2018 dự kiến làm tăng giá khoảng 5% đối với một số loại dịch vụ.

Theo ông Thỏa nếu tiếp tục triển khai đồng bộ có hiệu quả một số giải pháp điều tiết lớn ngay từ những tháng đầu năm thì mục tiêu kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng năm 2018 tăng 4% là có tính khả thi. Để kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng năm 2018 trước hết phải tiếp tục xử lý nguồn gốc sâu xa của lạm phát là cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh, ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhưng ông Ngô Trí Long cho rằng giữ lạm phát ở mức 4% cũng là một thách thức không nhỏ, khi các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng năm 2017, như đẩy nhanh đầu tư, nới tăng trưởng dư nợ tín dụng… có thể tác động trễ tới diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong năm sau. Và áp lực vẫn đang hiện hữu nếu Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương không chủ động kiểm soát, phối hợp chặt chẽ với nhau trong điều hành giá cả các mặt hàng.

Ông Long dự báo: tăng trưởng GDP năm 2018 có thể đạt 6,5 - 6,8%. 6,5% là mức tăng trưởng tối ưu không gây áp lực lên lạm phát. Mức tăng trưởng 6,8% là mức có thể đạt được khi các biện pháp kích cầu được áp dụng, nhưng sẽ gây áp lực lạm phát cầu kéo cho năm 2018. Và nếu các chính sách cải thiện cũng phát huy tác dụng thì dự báo tăng trưởng GDP năm 2018 có thể đạt mức cao hơn.

Để “thắng lợi kép” tăng trưởng cao, lạm phát được duy trì, bên cạnh các công tác quản lý điều hành giá không để mất cân đối cung cầu, điều hành chỉ số giá phải bám sát và hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng, tránh tạo ra lạm phát kỳ vọng hay tạo ra “độ trễ” của lạm phát trong những năm sau. Định hướng điều hành lạm phát là bám sát quy luật cung cầu của thị trường, không áp đặt thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, tiếp tục cải cách hành chính, cắt giảm các thủ tục đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

“Chính sách tài chính cũng vô cùng quan trọng, tác động tới kiểm soát lạm phát. Với chính sách tài khóa chặt chẽ được thực thi một cách có hiệu quả cũng như kiểm soát việc chi tiêu của nguồn ngân sách một cách hợp lý thì chắc chắn mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2018 là 4% có thể khả thi”, ông Long nhấn mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,42
5,42
5,42
6,90
7,10
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.667 28.004 30.973 31.469 202,20 206,07
BIDV 22.680 22.750 27.640 27.956 30.995 30.453 202,73 205,77
VietinBank 22.665 22.745 27.674 27.917 30.901 31.334 203,26 205,95
Agribank 22.670 22.745 26.634 27.975 30.015 31.457 202,65 205,89
Eximbank 22.650 22.740 27.617 27.977 31.073 31.478 203,31 205,96
ACB 22.670 22.740 27.613 27.959 31.154 31.466 203,30 205,85
Sacombank 22.667 22.759 27.682 28.041 31.170 31.527 203,34 206,40
Techcombank 22.665 22.755 27.306 28.185 30.723 31.615 201,88 207,21
LienVietPostBank 22.650 22.765 26.585 28.051 31.119 31.534 203,08 206,66
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.930 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.760
36.980
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.760
36.960
Vàng SJC 5c
36.760
36.980
Vàng nhẫn 9999
36.540
36.940
Vàng nữ trang 9999
36.190
36.890