Xuất khẩu gạo 2022: Chuyển từ “lượng” sang “chất”

07:01 | 08/01/2022

Doanh nghiệp sản xuất và thương nhân xuất khẩu gạo cần nghiên cứu, cải tiến công nghệ và tổ chức dây chuyền sản xuất khép kín theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế nhằm đảm bảo khả năng cung ứng các sản phẩm phù hợp với thị hiếu và yêu cầu của các thị trường tiêu dùng khó tính.

xuat khau gao 2022 chuyen tu luong sang chat Điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo: Đã “cởi” nay lại muốn “trói”

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sau hai năm liền đứng ở vị trí thứ hai toàn cầu về xuất khẩu gạo, Việt Nam sẽ đứng ở vị trí thứ ba trong năm 2022 với lượng xuất khẩu là 6,3 triệu tấn. Các chuyên gia lúa gạo nhận định, điều này hoàn toàn có khả năng khi Việt Nam đang thực hiện tái cơ cấu ngành lúa gạo, chuyển dần từ “lượng” về “chất”; các địa phương cũng đang tích cực đưa các giống lúa cho hiệu quả kinh tế cao, khả năng chống chịu sâu bệnh, biến đổi khí hậu tốt vào sản xuất.

Gạo chất lượng cao chiếm trên 89%

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan lũy kế từ 1/1 - 15/12/2021, Việt Nam xuất khẩu được 5,963 triệu tấn gạo, trị giá 3,144 tỷ USD. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá, khối lượng gạo xuất khẩu cả năm 2021 đạt tương đương năm 2020, song giá trị mang về tăng 4,8% so với năm ngoái, do tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 89% gạo xuất khẩu, đã góp phần nâng giá gạo xuất khẩu bình quân từ 496 USD/tấn năm 2020 lên trên 503 USD/tấn năm 2021.

Về thị trường xuất khẩu, Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, tiếp theo đó là Trung Quốc, Ghana… Gần đây gạo Việt Nam xuất khẩu sang Băngladesh tăng 8.617,0% về lượng đạt 53.261 tấn, tương đương 32,18 triệu USD.

xuat khau gao 2022 chuyen tu luong sang chat
Xuất khẩu gạo Việt Nam được dự báo đạt 6,3 triệu tấn trong năm 2022

Theo đánh giá của các chuyên gia, Hiệp định Thương mại tự do EU – Việt nam (EVFTA) được thực thi từ 1/8/2020 đã tạo cơ hội cho tăng trưởng xuất khẩu gạo, dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Theo đó, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang EU năm qua đạt 5,2 triệu USD, tăng 3,73% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong số ít quốc gia kiểm soát và thích ứng được với dịch bệnh; chủ động bố trí thời vụ, cơ cấu giống phù hợp nên sản xuất lúa vẫn đảm bảo, nguồn cung lúa gạo vẫn dồi dào, đảm bảo an ninh lương thực trong nước và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa - Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương), xuất khẩu gạo trong năm vừa qua cũng trải qua nhiều khó khăn, đặc biệt là từ giữa tháng 7/2021, các tỉnh miền Tây phải thực hiện giãn cách xã hội để chống dịch.

Để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, ngành Ngân hàng đã tập trung nguồn vốn, giảm lãi vay, nâng hạn mức tín dụng trên địa bàn 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn thu mua, tạm trữ thóc, gạo. Theo đó các TCTD đã giải ngân với tổng doanh số luỹ kế hơn 122 nghìn tỷ đồng để thu mua hơn 19 triệu tấn gạo.

Nhiều cơ hội cho xuất khẩu gạo

TS. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa cho rằng, năm 2022 vẫn nhiều cơ hội đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam. Cụ thể, nước ta đang thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó đặt mục tiêu giảm sản lượng, giảm số lượng gạo xuất khẩu và tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, trên cơ sở dựa trên ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, đáp ứng tiêu chuẩn cao về nhập khẩu và nhu cầu người tiêu dùng ở các nước phát triển.

Ngoài ra, Hiệp định EVFTA cấp cho Việt Nam hạn ngạch xuất khẩu gạo 80 nghìn tấn/năm, nếu làm tốt khả năng EU sẽ tăng lên từ 100 – 200 nghìn tấn/năm vì nhu cầu nhập khẩu gạo của EU hiện lên đến 2,3 triệu tấn/năm. Như vậy, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội chuyển hướng sang các thị trường khó tính hơn, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng cho xuất khẩu gạo.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát trở lại tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhu cầu lương thực được dự báo có khả năng còn tăng cao trong thời gian tới. Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo, thương mại gạo toàn cầu trong năm 2022 sẽ đạt 48 triệu tấn xay xát.

Tuy vậy, cũng còn nhiều thách thức đối với việc thúc đẩy xuất khẩu lúa gạo trong thời gian tới. Theo chuyên gia Nguyễn Đình Bích, hiện giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang cao hơn các nước xuất khẩu gạo truyền thống. Đây là một bất lợi trong quá trình đàm phán hợp đồng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt để có thể cạnh tranh với các nước xuất khẩu gạo truyền thống khác, nhất là nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan.

Thời gian vừa qua, nhiều thị trường cũng đã bổ sung những quy định mới về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với nông sản nhập khẩu, trong đó có gạo. Đáng chú ý là thị trường trọng điểm Trung Quốc áp dụng Lệnh 248, 249 về vấn đề đăng ký và quy định an toàn thực phẩm xuất nhập khẩu, có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. Đây chắc chắn là thách thức nếu doanh nghiệp Việt muốn duy trì và đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này.

Chính vì vậy, các chuyên gia nhấn mạnh, trong thời gian tới, doanh nghiệp sản xuất và thương nhân xuất khẩu gạo cần nghiên cứu, cải tiến công nghệ và tổ chức dây chuyền sản xuất khép kín theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế nhằm đảm bảo khả năng cung ứng các sản phẩm phù hợp với thị hiếu và yêu cầu của các thị trường tiêu dùng khó tính.

Riêng đối với thị trường EU, Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và EU nhấn mạnh, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo sang EU cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề bao bì với nhiều quy định rất chi tiết, vì thực tế có những doanh nghiệp xuất khẩu gạo chất lượng cao sang EU thời gian qua chưa đáp ứng đúng yêu cầu về thông tin trên bao bì.

Cùng với đó, trong điều kiện dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, cần đảm bảo vận chuyển, lưu thông và tiêu thụ lúa gạo thuận lợi, việc khơi thông “luồng xanh” đường thuỷ được xem là nhiệm vụ quan trọng mà các bộ, ngành cần quan tâm, coi đây là một mắt xích trọng yếu giúp duy trì chuỗi cung ứng lúa gạo.

Doanh nghiệp sản xuất và thương nhân xuất khẩu gạo cần nghiên cứu, cải tiến công nghệ và tổ chức dây chuyền sản xuất khép kín theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế nhằm đảm bảo khả năng cung ứng các sản phẩm phù hợp với thị hiếu và yêu cầu của các thị trường tiêu dùng khó tính.

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400