07:15 | 02/11/2018

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 1/11

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 10.900 tỷ đồng từ thị trường. Thị trường chứng khoán phiên đầu tháng 11 đi theo hướng tiêu cực khi nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn trên thị trường bị bán rất mạnh và giảm sâu. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 6,8 điểm (-0,74%) xuống 907,96 điểm; HNX-Index giảm 1,99 điểm (-1,88%) xuống 103,37 điểm…

TIN LIÊN QUAN
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 31/10
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 30/10
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 29/10

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 1/11, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 22.727 VND/USD, tăng nhẹ 1 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.359 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.332 VND/USD, giảm 13 đồng so với phiên 31/10. Tỷ giá tự do tăng 10 đồng ở chiều mua vào trong khi không thay đổi ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.460 - 23.480 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 1/11, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng 0,01 - 0,03 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tháng, trong khi giảm 0,03 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tuần và giữ nguyên ở kỳ hạn 2 tuần so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 4,70%; 1 tuần 4,74%; 2 tuần 4,76% và 1 tháng 4,79%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,01 - 0,02 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn trong khi không thay đổi ở kỳ hạn 1 tháng; giao dịch ở mức: qua đêm 2,29%; 1 tuần 2,38%; 2 tuần 2,47%, 1 tháng 2,63%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở tất cả các kỳ hạn; cụ thể: 3 năm 4,48%; 5 năm 4,68%; 7 năm 4,83%; 15 năm 5,41%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu. Có 100 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống mức 30.960 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước chào thầu 6.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày lãi suất 4,75%, các tổ chức tín dụng hấp thu được toàn bộ số này. Phiên hôm qua có 17.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, khối lượng lưu hành trên kênh này giảm xuống mức 34.000 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 10.900 tỷ đồng từ thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở .

Thị trường chứng khoán phiên đầu tháng 11 đi theo hướng tiêu cực khi nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn trên thị trường bị bán rất mạnh và giảm sâu. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 6,8 điểm (-0,74%) xuống 907,96 điểm; HNX-Index giảm 1,99 điểm (-1,88%) xuống 103,37 điểm.

Thanh khoản thị trường dù giảm so với hôm trước đó nhưng vẫn ở mức cao với tổng giá trị giao dịch trên 6.700 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng mạnh với hơn 2.100 tỷ đồng trên toàn thị trường; tuy vậy, nếu trừ đi thỏa thuận đột biến 2.275 tỷ đồng của cổ phiếu MSN thì khối ngoại vẫn bán ròng trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo kết quả khảo sát của Nikkei, chỉ số Nhà quản trị Mua hàng PMI toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam tháng 10 tăng lên 53,9 điểm từ mức thấp 51,5 điểm của tháng 9.

Tin quốc tế

Chỉ số PMI ngành sản xuất của Mỹ đạt 57,7 điểm trong tháng 10, giảm 2,1 điểm với tháng trước và thấp hơn mức dự báo 59 điểm của các chuyên gia. Nhìn chung, lĩnh vực sản xuất vẫn tiếp đà tăng trưởng 114 tháng liên tiếp song với tốc độ chậm nhất kể từ tháng 4/2018.

Kết thúc kỳ họp tháng 11, cả 9 thành viên thuộc Ủy Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Anh BOE đã bỏ phiếu giữ nguyên mức lãi suất 0,75% do tiến trình Brexit còn nhiều bất ổn. Tuy nhiên, BOE gợi ý về khả nâng lãi suất nhanh hơn sau khi Anh và Liên minh châu Âu EU đạt được thoả thuận, dự kiến 3 lần nữa cho đến cuối năm 2021. Động thái này diễn ra trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng và vượt ngưỡng mục tiêu 2%.

Liên quan đến dữ liệu kinh tế trong ngày, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất của Anh do Markit công bố đạt 51,1 điểm trong tháng 10, mức thấp nhất trong vòng 27 tháng qua và không đạt dự báo 53 điểm.

Thặng dư cán cân thương mại Úc đã vươn lên mức 3,02 tỷ USD, cao nhất trong vòng 18 tháng và ngược với dự đoán giảm xuống còn 1,71 tỷ USD của các chuyên gia. Giá trị thặng dư lớn và tăng trưởng liên tiếp trong 3 tháng gần đây cho thấy thương mại Úc chưa bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.650
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.650
36.780
Vàng SJC 5c
36.650
36.800
Vàng nhẫn 9999
36.640
37.040
Vàng nữ trang 9999
36.230
36.830