07:30 | 20/09/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 19/9

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 14.999 tỷ đồng. VN-Index tăng 1,75 điểm (+0,20%) lên 997,10 điểm; HNX-Index tăng 1,75 điểm (+1,71%) lên 104,04 điểm; UPCOM-Index tăng 0,28 điểm (+0,50%), lên mức 56,69 điểm. Thanh khoản thị trường giảm. Khối ngoại bán ròng nhẹ 1 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 18/9
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 17/9
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/9
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 9-13/9

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 19/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.147 VND/USD, tăng nhẹ 4 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.791 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.208 VND/USD, tiếp tục giảm 10 đồng so với phiên hôm trước. Tỷ giá trên thị trường tự do giảm 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.190 - 23.220 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 - 0,15 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 2,35%; 1 tuần 2,50%; 2 tuần 2,75% và 1 tháng 3,25%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tăng 0,01 - 0,04 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tuần trong khi cùng giảm 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,27%; 1 tuần 2,31%; 2 tuần 2,41%, 1 tháng 2,55%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm ở kỳ hạn 3 năm và tăng ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: 3 năm 2,84%; 5 năm 3,09%; 7 năm 3,65%; 10 năm 4,01%; 15 năm 4,28%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 19/9, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 15.000 tỷ đồng tín phiếu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,50%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được 14.999 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 14.999 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường tăng lên mức 56.998 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước vẫn chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, các cố phiếu vốn hóa lớn có sự phân hóa, tuy nhiên nhóm cổ phiếu ngân hàng tăng điểm đã giúp thị trường đóng cửa với sắc xanh.

Chốt phiên, VN-Index tăng 1,75 điểm (+0,20%) lên 997,10 điểm; HNX-Index tăng 1,75 điểm (+1,71%) lên 104,04 điểm; UPCOM-Index tăng 0,28 điểm (+0,50%), lên mức 56,69 điểm.

Thanh khoản thị trường giảm so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt khoảng 4.400 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng nhẹ 1 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo ADB, tại Việt Nam, thị trường trái phiếu bằng nội tệ tiếp tục mở rộng trong quý II/2019, tăng 2,6% so với quý trước đó, lên mức 52,9 tỷ USD. Mức tăng trưởng này chủ yếu là nhờ tăng 3,2% của thị trường trái phiếu chính phủ - lên tới 48 tỷ USD - do phát hành trái phiếu kho bạc và tín phiếu Ngân hàng Nhà nước.

Tin quốc tế

Trong cuộc họp vừa qua, BOE quyết định giữ lãi suất chính sách ở mức 0,75%, không thay đổi so với trước đó. Bên cạnh đó BOE cũng đưa ra lời cảnh báo đến các nhà lập pháp Anh rằng một cuộc trì hoãn Brexit sẽ gây tổn thương đến nền kinh tế quốc nội Anh. Ngay sau đó, Chính phủ Anh đã cho biết sẽ đưa ra các giải pháp cho vấn đề ly khai của nước này khỏi Liên minh Châu Âu, đồng thời cũng sẽ không đi theo một hạn chót mang tính máy móc.

Tỷ lệ thất nghiệp của nước Úc trong tháng vừa qua ở mức 5,3%, tăng lên từ so với mức của tháng 7 đồng thời cũng là dự báo của các chuyên gia tại 5,2%. Bên cạnh đó, nước Úc tháng vừa qua tạo ra 34,7 nghìn việc làm mới, gần bằng mức 36,4 nghìn việc làm mới trong tháng 7 và vượt hẳn so với dự báo 15,2 nghìn việc làm.

Trong cuộc họp vừa qua, BOJ quyết định giữ mức lãi suất chính sách -0,1%, không thay đổi so với trước. Các quan chức của BOJ cùng kêu gọi tập trung vào kế hoạch đánh giá lại nền kinh tế cùng tỷ lệ lạm phát vào cuộc họp ngày 30/10, trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed và NHTW Châu Âu ECB vừa hạ lãi suất và có thể tác động đến kinh tế toàn cầu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670