11:00 | 12/01/2017

Nguồn cung hạn chế, giá cho thuê tăng

CBRE ghi nhận giá cho thuê văn phòng trung bình tăng do nguồn cung hạn chế, cùng với tỷ lệ hấp thụ cao và tỷ lệ trống thấp cho từng quý. 

Bất động sản vẫn trong chu kỳ tăng trưởng
Tín dụng bất động sản tăng trong tầm kiểm soát?
Bất động sản công nghiệp: Phải thay đổi để phù hợp

Trong cả năm 2016, CBRE ghi nhận giá cho thuê văn phòng trung bình tăng do nguồn cung hạn chế, cùng với tỷ lệ hấp thụ cao và tỷ lệ trống thấp cho từng quý. CBRE dẫn chứng tỷ lệ trống trong năm 2016 của cao ốc văn phòng loại A và loại B lần lượt là 4,0% và 2,8%. Giá cho thuê trung bình trong năm 2016 là 38 USD/m2 đối với hạng A và 21 USD/m2 đối với hạng B.

Đơn vị nghiên cứu này nhận định, hiện nay nguồn cung văn phòng cho thuê thiếu hụt nhưng lại bị hấp thụ rất nhanh trước khi có nguồn cung tiếp theo trong tương lai gần. Đơn cử như cuối năm 2016, có 2 dự án mới được hoàn thành: Mappletree Business Center ở quận 7 và Cao ốc Hà Đô ở quận Tân Bình lập tức các khách thuê đã dọn tới đầy các cao ốc này. Hai dự án ngừng thi công trong thời gian dài là JSC Tower và Thương xá Tax khu trung tâm được khởi công trở lại trong quý IV/2016 nhưng dự kiến sẽ đến năm 2020 mới hoàn thành và tăng thêm 83.000 m2 GFA.

Ảnh minh họa

Tổng nguồn cung trong năm 2017 được dự kiến sẽ cung cấp hơn 1,2 triệu  m2 diện tích thực thuê (NLA), với hạng A chiếm 357.753 m2 NLA và hạng B chiếm 896.057 m2 NLA. Nguồn cung dự kiến sẽ tăng trưởng đều từ năm 2017 đến 2019 thị trường sẽ chào đón khoảng 40.000 m2 NLA mỗi năm. Giá chào thuê trung bình dự kiến sẽ tăng trưởng đều với tỷ lệ tăng trưởng trung bình 1,5%, đặc biệt là trong khu vực trung tâm.

CBRE ghi nhận thông qua các giao dịch thì nguồn cầu lớn nhất vẫn đến từ các ngành Tài chính - Ngân hàng, Dịch vụ Logistics và Công nghệ thông tin. Khi thị trường khởi nghiệp ngày càng bùng nổ ở Việt Nam, các khách thuê sẽ có thêm sự lựa chọn từ các không gian làm việc chung và các văn phòng dịch vụ thay vì hình thức văn phòng truyền thống. CBRE dự kiến các tòa nhà cũ sẽ tận dựng các khối đế thương mại không còn hoạt động và các diện tích văn phòng khó cho thuê để phát triển thành các văn phòng dịch vụ hoặc không gian làm việc chung…

CBRE cũng nhận định trong năm 2017 và những năm tiếp theo, với đà tăng trưởng sẵn có, nhiều nhà đầu tư lớn sẽ mở rộng đầu tư ở những vùng hiện chưa được khai thác mạnh, do đó sẽ không có nhiều cạnh tranh trực tiếp. Tuy nhiên, tỷ lệ hấp thụ của các thị trường mới này chưa được kiểm định chắc chắn và sẽ có thêm nhiều dự án nhỏ được phát triển trước để nghiên cứu thị trường.

Những dự án mới này khó có khả năng nằm ở phân khúc giá cao, nên giá bán trung bình sẽ được hạ xuống. Ở những khu vực đã được phát triển lâu như quận 9, quận 7, huyện Nhà Bè, do thiếu các dự án trọng điểm, cả giá bán và tỷ lệ hấp thụ được dự kiến sẽ ổn định trong 2-3 năm tới mà không có nhiều biến đổi đột ngột.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
6,60
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,70
5,00
5,70
5,70
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,00
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,90
5,60
5,80
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
5,40
5,50
5,50
6,70
6,80
7,20
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.770 22.840 24.020 24.307 28.001 28.450 199,09 202,89
BIDV 22.770 22.840 24.089 24.299 28.128 28.429 200,81 202,61
VietinBank 22.740 22.830 23.972 24.306 27.926 28.430 199,34 202,84
Agribank 22.740 22.820 23.945 24.322 27.953 28.472 199,62 203,10
Eximbank 22.760 22.860 24.018 24.331 28.111 28.476 200,34 202,94
ACB 22.750 22.850 23.021 24.308 28.179 28.445 200,18 202,57
Sacombank 22.740 22.830 24.007 24.430 28.017 28.544 200,58 203,28
Techcombank 22.730 22.840 23.689 24.450 27.780 28.453 199,20 203,17
LienVietPostbank 22.720 22.840 23.763 24.329 28.183 28.454 196,35 203,02
DongA Bank 22.770 22.850 24.060 24.330 28.150 28.480 200,20 202,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.680
36.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.680
36.950
Vàng SJC 5c
36.680
36.970
Vàng nhẫn 9999
34.330
34.730
Vàng nữ trang 9999
33.830
34.630