07:30 | 11/09/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 10/9

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 988 tỷ đồng. VN-Index giảm 3,86 điểm (-0,40%) xuống còn 970,26 điểm; HNX-Index giảm 0,88 điểm (-0,87%) xuống còn 99,97 điểm; UPCOM-Index giảm 0,35 điểm (-0,60%) xuống 56,15 điểm. Thanh khoản tiếp tục duy trì ở mức thấp. Khối ngoại mua ròng nhẹ 1,35 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 9/9
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 3-6/9

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 10/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.135 VND/USD, tăng trở lại 3 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.779 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.200 VND/USD, tăng nhẹ 1 đồng so với phiên 9/9. Tỷ giá tự do giữ nguyên ở chiều mua vào trong khi tăng 20 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.170 - 23.220 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tiếp tục giảm mạnh 0,14 - 0,19 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên đầu tuần; giao dịch tại: qua đêm 3,33%; 1 tuần 3,48%; 2 tuần 3,62% và 1 tháng 3,88%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn trong khi tăng 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,27%; 1 tuần 2,37%; 2 tuần 2,47%, 1 tháng 2,60%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn, giao dịch tại: 3 năm 2,95%; 5 năm 3,26%; 7 năm 3,74%; 10 năm 4,08%; 15 năm 4,36%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 10/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu. Trong ngày có 988 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 988 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố trở về mức 0 tỷ đồng,

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước trong phiên hôm qua.

Thị trường chứng khoán phiên giao dịch hôm qua ghi nhận đà giảm của nhiều cổ phiếu lớn, khiến cả 3 chỉ số thị trường lùi xuống dưới mốc tham chiếu, đặc biệt HNX-Index mất mốc 100 điểm. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 3,86 điểm (-0,40%) xuống còn 970,26 điểm; HNX-Index giảm 0,88 điểm (-0,87%) xuống còn 99,97 điểm; UPCOM-Index giảm 0,35 điểm (-0,60%) xuống 56,15 điểm.

Dòng tiền vẫn không cải thiện và thanh khoản tiếp tục duy trì ở mức thấp với tổng giá trị giao dịch đạt gần 4.500 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng nhẹ 1,35 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Bộ Tài chính, trong 8 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính thực hiện ký kết 5 hiệp định vay vốn nước ngoài (4 hiệp định với ADB, 1 hiệp định với OFID), tổng trị giá khoảng 463 triệu USD.

Trong tháng 8, tính đến 20/8, giải ngân nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài khoảng 74 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến 20/8, giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài khoảng 1.322 triệu USD, tương đương khoảng 30.494 tỷ đồng.

Tin quốc tế

Chủ tịch Ủy ban châu Âu EC Ursula von der Leyen tuyên bố khối EU đã sẵn sàng cho việc Anh ly khai mà không có bất kỳ thỏa thuận nào được thông qua. Tuy nhiên, bà Leyen cũng nhấn mạnh rằng Brexit không thỏa thuận luôn là kịch bản không hề có lợi cho cả hai bên.

Tỷ lệ thất nghiệp của nước Anh trong tháng 7 ở mức 3,8%, giảm so với mức 3,9% của tháng trước đó đồng thời là mức dự báo của các chuyên gia. Tỷ lệ người có việc làm lên tới 76,1% dân số, xác nhận mức cao nhất kể từ khi được thống kê vào năm 1971. Bên cạnh đó, thu nhập trung bình của người lao động Anh tăng 4,0% 3 trong tháng 7, cao hơn mức tăng 3,8% của tháng 6 và trái với dự báo chỉ tăng 3,7%.

Chỉ số giá tiêu dùng của Trung Quốc tăng 2,8% so với cùng kỳ trong tháng 8, bằng với mức tăng của tháng 7 và cao hơn mức tăng 2,6% theo dự báo. Nguyên nhân chính dẫn đến mức CPI của Trung Quốc cao là do giá thịt lợn đã tăng 46,7% so với cùng kỳ do dịch tả lợn Châu Phi đang bùng phát khiến nguồn cung tại Trung Quốc giảm mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.444 26.318 29.676 30.181 20582 22037
BIDV 23.145 23.265 25.513 26.260 29.766 30.332 20783 21466
VietinBank 23.126 23.256 25.447 26.282 29.663 30.303 21053 21653
Agribank 23.145 23.255 25.430 26.822 29.641 30.126 21072 21455
Eximbank 23.140 23.250 25.484 25.835 29.808 30.219 21197 21490
ACB 23.130 23.250 25.478 25.828 29.882 30.218 21197 21488
Sacombank 23.105 23.265 25.476 26.080 29.841 30.244 21131 21585
Techcombank 23.134 23.274 25.242 26.237 29.483 30.406 21045 21761
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.408 25.878 29.825 30.264 21161 21557
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500