07:30 | 10/09/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 9/9

Thị trường mở hôm qua không có giao dịch. VN-Index tăng nhẹ 0,04 điểm (+0,004%) lên 974,12 điểm; HNX-Index giảm nhẹ 0,06 điểm (-0,06%) xuống 100,85 điểm; UPCOM-Index giảm 0,31 điểm (-0,48%) xuống 56,49 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp. Khối ngoại mua ròng hơn 352 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 3-6/9

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 9/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.132 VND/USD, giảm 6 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.776 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.199VND/USD, giảm nhẹ 1 đồng so với phiên 6/9. Tỷ giá tự do giảm 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.170 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tiếp tục giảm mạnh 0,10 - 0,17 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên cuối tuần trước; giao dịch tại: qua đêm 3,52%; 1 tuần 3,63%; 2 tuần 3,78% và 1 tháng 4,02%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở các kỳ hạn ngắn từ 1 tháng trở xuống; giao dịch tại: qua đêm 2,28%; 1 tuần 2,38%; 2 tuần 2,48%, 1 tháng 2,59%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm ở tất hầu hết hạn ngoại trừ tăng ở kỳ hạn 10 năm, giao dịch tại: 3 năm 2,92%; 5 năm 3,24%; 7 năm 3,71%; 10 năm 4,05%; 15 năm 4,34%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 9/9, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu. Trong ngày không có đáo hạn trên kênh này. Như vậy, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giữ nguyên ở mức 988 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước trong phiên hôm qua.

Thị trường chứng khoán gần như đi ngang trong phiên hôm qua, thanh khoản khá thấp. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng nhẹ 0,04 điểm (+0,004%) lên 974,12 điểm; HNX-Index giảm nhẹ 0,06 điểm (-0,06%) xuống 100,85 điểm; UPCOM-Index giảm 0,31 điểm (-0,48%) xuống 56,49 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức thấp với tổng giá trị giao dịch đạt 4130 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng hơn 352 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Thu chi ngân sách nhà nước thâm hụt 20,09 nghìn tỷ đồng trong tháng 8 song thặng dư 96,25 nghìn tỷ lũy kế 8 tháng đầu năm.

Cụ thể, số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy, tổng thu ngân sách nhà nước thực hiện tháng 8 ước đạt 100,4 nghìn tỷ đồng và tổng chi ước đạt 124,49 nghìn tỷ đồng. Tính theo lũy kế kể từ đầu năm, thu ngân sách nhà nước 8 tháng ước đạt 997,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,7% dự toán, tăng 12,4% so cùng kỳ năm 2018; chi ngân sách nhà nước đạt 901,35 nghìn tỷ đồng, bằng 55,2% dự toán, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Tin quốc tế

Người phát ngôn của Thủ tướng Anh Boris Johnson cho biết Quốc hội nước này sẽ bắt đầu tạm ngừng làm việc khi ngày 9/9 kết thúc và sẽ hoạt động trở lại vào ngày 14/10 theo như phê duyệt trước đó của Nữ hoàng Anh Elizabeth II.

Liên quan đến kinh tế Anh, GDP nước này trong tháng 7 tăng 0,3% so với tháng trước sau khi chững lại tháng trước đó, đồng thời cao hơn mức tăng 0,1% theo dự báo của các chuyên gia. Sản lượng sản xuất của nước này trong tháng 7 cũng tăng 0,3% so với tháng trước sau khi giảm 0,2% ở tháng 6, trái với dự báo giảm 0,3%. Cuối cùng, cán cân thương mại nước Anh thâm hụt 9,1 tỷ GBP trong tháng 7, sâu hơn mức thâm hụt 7,0 tỷ của tháng 6 nhưng tích cực hơn mức dự báo thâm hụt 9,6 tỷ.

Số khoản cho vay mua nhà của nước Úc tăng 5% so với tháng trước trong tháng 7 sau khi giảm nhẹ 0,8% ở tháng trước đó, đồng thời vượt qua kỳ vọng tăng 0,5%.

GDP của Nhật Bản trong quý II chỉ tăng 0,3% so với quý trước, thấp hơn so với mức tăng 0,4% theo dữ liệu sơ bộ và khớp với dự báo. Bên cạnh đó, cán cân thương mại nước này thặng dư 1,65 nghìn tỷ JPY trong tháng 7, thấp hơn khá nhiều so với mức thặng dư 1,94 nghìn tỷ của tháng 6 đồng thời thấp hơn dự báo thặng dư 1,7 nghìn tỷ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850