07:30 | 18/07/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 17/7

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 7.000 tỷ đồng. VN-Index tăng nhẹ 0,46 điểm (+0,05%) lên 982,57 điểm; HNX-Index tăng 0,73 điểm (+0,69%) lên 106,58 điểm; UPCOM-Index giảm 0,25 điểm (-0,44%) xuống 57,05 điểm. Thanh khoản thị trường giảm. Khối ngoại tiếp tục mua ròng hơn 173 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/7
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 15/7
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 8-12/7

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 17/7, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.068 VND/USD, tăng 6 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.710 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.215 VND/USD, tăng 15 đồng so với phiên 16/7. Tỷ giá tự do tiếp tục giữ nguyên ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 17/7, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng 0,01 - 0,03 điểm phần trăm ở hầu hết các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống, ngoại trừ không thay đổi ở kỳ hạn 2 tuần so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 3,07%; 1 tuần 3,18%; 2 tuần 3,30% và 1 tháng 3,58%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tăng 0,01 - 0,02 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch tại: qua đêm 2,52%; 1 tuần 2,59%; 2 tuần 2,66%, 1 tháng 2,79%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm ở các kỳ hạn ngắn trong khi tăng ở các kỳ hạn 10 năm và 15 năm, giao dịch tại: 3 năm 3,34%; 5 năm 3,68%; 7 năm 4,05%; 10 năm 4,55%; 15 năm 4,79%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước vẫn chào thầu 5.000 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Khối lượng này được các tổ chức tín dụng hấp thụ toàn bộ. Trong ngày có 12.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 7.000 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống mức 29.999 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường trái phiếu ngày 17/7, Kho bạc Nhà nước huy động được toàn bộ 8.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ gọi thầu ở các kỳ hạn từ 5 năm đến 20 năm. Trong đó, khối lượng trúng thầu từng kỳ hạn lần lượt tại 5 năm 500 tỷ đồng, 10 năm và 15 năm 3.000 tỷ đồng mỗi kỳ hạn và 20 năm 1.500 tỷ đồng.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 20 năm giảm tới 27 điểm, các kỳ hạn còn lại giảm từ 5 - 10 điểm so với phiên trước.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua có sự phân hóa mạnh ở nhóm cố phiếu vốn hóa lớn khiến các chỉ số dao động quanh mức tham chiếu. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng nhẹ 0,46 điểm (+0,05%) lên 982,57 điểm; HNX-Index tăng 0,73 điểm (+0,69%) lên 106,58 điểm; UPCOM-Index giảm 0,25 điểm (-0,44%) xuống 57,05 điểm.

Thanh khoản thị trường giảm so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt hơn 4.700 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục mua ròng hơn 173 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vừa công bố Báo cáo Quốc gia về Việt Nam, dự báo GDP Việt Nam 2019 tăng 6,5%, không thay đổi so với dự báo hồi tháng 4 nhưng thấp hơn mục tiêu 6,8% Chính phủ Việt Nam đưa ra cuối năm ngoái. Tốc độ này sẽ duy trì sang năm tới và trong trung hạn, phản ánh điều kiện bên ngoài dần kém thuận lợi. IMF tính toán lạm phát Việt Nam đạt trung bình 3,5% năm 2018, có thể tăng lên 3,6% năm nay và 3,8% năm 2020.

Theo Liên Bộ Công Thương - Tài chính, từ 17/7, mỗi lít xăng E5 RON 92 tăng thêm 626 đồng, lên 20.279 đồng; xăng RON 95 tăng 718 đồng, lên 21.235 đồng. Các mặt hàng dầu cũng đồng loạt tăng 48-760 đồng một lít, kg tùy loại. Nhà điều hành tiếp tục mức trích Quỹ bình ổn giá 500 đồng một lít, kg với các mặt hàng xăng, dầu. Riêng xăng E5 RON 92 mức trích quỹ là 100 đồng một lít.

Tin quốc tế

Ngày 16/7, tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu ông có thể đánh thuế 325 tỷ USD nữa lên hàng hóa Trung Quốc nếu muốn. Ngay sau đó ngày 17/7, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng nếu Mỹ áp đặt thuế quan mới sẽ cản trở các cuộc đàm phán song phương và khiến lộ trình hướng tới một thỏa thuận bị kéo dài.

Liên quan đến thông tin kinh tế, số đơn cấp phép xây dựng và số nhà khởi công Mỹ lần lượt ở mức 1,22 triệu đơn và 1,25 triệu căn trong tháng 6, thấp hơn so với mức 1,29 triệu đơn và 1,27 triệu căn của tháng 5, đồng thời thấp hơn kỳ vọng 1,3 triệu đơn và 1,26 triệu căn theo dự báo.

Bà Ursula von der Leyen, Bộ trưởng Quốc phòng Đức, đã đắc cử Chủ tịch Ủy ban châu Âu EC nhiệm kỳ 2019-2024 với 383 phiếu thuận, 327 phiếu chống và 22 phiếu trắng.

Liên quan đến lạm phát Eurozone, chỉ số CPI của khu vực này trong tháng 6 chính thức tăng 1,3% so với cùng kỳ, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với báo cáo sơ bộ. Tuy nhiên chỉ số CPI lõi không có sự thay đổi, chính thức tăng 1,1% so với cùng kỳ trong tháng vừa qua.

Chỉ số CPI của Anh tăng 2,0% so với cùng kỳ trong tháng 6, bằng với mức tăng của tháng 5 và khớp với dự báo. Tuy nhiên chỉ số giá sản xuất giảm 1,4% so với tháng trước trong tháng vừa qua sau khi không thay đổi trong tháng 5. Giá nhà tại Anh tăng 1,2% so với tháng trước trong tháng 5, thấp hơn mức tăng 1,5% của tháng trước đó và khớp với dự báo.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700