07:30 | 06/06/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 5/6

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.000 tỷ đồng. VN-Index tăng 0,25 điểm (+0,03%) lên 951,41 điểm; HNX-Index tăng 0,48 điểm (+0,47%) lên 103,54 điểm; UPCOM-Index giảm 0,36 điểm (-0,66%) xuống mức 54,54 điểm. Thanh khoản thị trường tiếp tục giảm. Khối ngoại tiếp tục mua ròng 69 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/6
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/6
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 27-31/5

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 5/6, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.052 VND/USD và tỷ giá bán ở mức 23.694 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng tỷ giá chốt phiên ở mức 23.407 VND/USD, giảm nhẹ 3 đồng so với phiên 4/6. Tỷ giá tự do tăng 15 đồng ở chiều mua vào và 20 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.400 - 23.420 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 5/6, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn qua đêm trong khi giảm 0,03 - 0,11 điểm phần trăm ở các kỳ hạn còn lại so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 3,21%; 1 tuần 3,34%; 2 tuần 3,46% và 1 tháng 3,69%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở kỳ hạn qua đêm trong khi tăng 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần, giảm 0,02 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,51%; 1 tuần 2,63%; 2 tuần 2,70%, 1 tháng 2,81%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở các kỳ hạn 3 năm và 5 năm trong khi giảm ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: 3 năm 3,55%; 5 năm 3,81%; 7 năm 4,16%; 10 năm 4,68%; 15 năm 5,03%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 13.000 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 18.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.000 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 75.999 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, không có khối lượng trúng thầu, số dư trên kênh cầm cố bằng 0.

Thị trường trái phiếu ngày 5/6, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 2.692/3.250 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ (tỷ lệ trúng thầu 83%). Trong đó, kỳ hạn 7 năm không có khối lượng trúng thầu, kỳ hạn 10 năm huy động được 942/1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm và 20 năm huy động lần lượt toàn bộ 1.000 tỷ đồng và 750 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn đều giảm từ 1 điểm đến 5 điểm so với phiên trước.

Thị trường chứng khoán về cuối phiên không còn duy trì được đà hưng phấn từ buổi sáng, lực cầu suy yếu đáng kể khiến đà tăng của của các chỉ số bị thu hẹp đi mạnh. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 0,25 điểm (+0,03%) lên 951,41 điểm; HNX-Index tăng 0,48 điểm (+0,47%) lên 103,54 điểm; UPCOM-Index giảm 0,36 điểm (-0,66%) xuống mức 54,54 điểm. Thanh khoản thị trường tiếp tục giảm so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt hơn 3.000 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục mua ròng 69 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Ngân hàng Thế giới giữ nguyên dự báo tăng trưởng Việt Nam từ 2019 - 2021 trong Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 6/2019. Theo đó, GDP Việt Nam được dự báo tăng ở mức 6,6% cho năm 2019 và 6,5% cho các năm 2020 và 2021, không thay đổi so với dự báo của WB hồi tháng 1/2019.

Tin quốc tế

World Bank dự báo kinh tế thế giới tăng trưởng 2,6% trong năm 2019, thấp hơn mức 2,9% theo tháng báo cáo tháng 1, trong bối cảnh rủi ro liên tục tăng cao.

Tăng trưởng của Mỹ và Trung được dự báo lần lượt ở mức 2,5% và 6,2% trong năm 2019. Bên cạnh đó, châu Âu được dự báo giảm tốc mạnh, tăng trưởng chỉ ở mức 1,2%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với lần dự báo trước.

Nhóm nền kinh tế mới nổi và đang phát triển được dự báo tăng trưởng 4,0%, giảm 0,3% so với dự báo trước.

Trong dài hạn, World Bank cho rằng kinh tế thế giới lấy lại đà tăng trưởng ở mức 2,7% năm 2020 và 2,8% năm 2021, nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của chính các thị trường mới nổi và đang phát triển đã giảm tốc trước đó.

Chỉ số PMI lĩnh vực dịch vụ Mỹ ở mức 56,9% trong tháng 5, tăng so với 55,5% của tháng 4 đồng thời vượt qua mức dự báo 55,6%. ISM ghi nhận lĩnh vực dịch vụ đã mở rộng 112 tháng liên tiếp, tương ứng với hơn 9 năm trở lại đây

Tổ chức ADP cho biết số việc làm tăng thêm ở lĩnh vực phi nông nghiệp của Mỹ chỉ đạt 27.000 việc làm mới trong tháng 5, thấp hơn nhiều so với 275.000 việc làm của tháng trước đó đồng thời thấp hơn mức 185.000 theo dự báo.

GDP Úc tăng 0,4% trong quý I/2019, cao hơn mức 0,2% của quý IV/2018 nhưng khớp với dự báo của các chuyên gia. So với cùng kỳ năm ngoái, GDP Úc tăng 1,8%, là mức tăng thấp nhất kể từ sau khi khủng hoảng tài chính thế giới kết thúc cuối năm 2009.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700