Thị trường vàng sáng 12/8: Tiếp đà giảm bất chấp bạc xanh suy yếu

08:40 | 12/08/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp đà giảm của phiên trước đó bất chấp bạc xanh suy yếu, trong bối cảnh thị trường giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất mạnh mẽ.

thi truong vang sang 128 tiep da giam bat chap bac xanh suy yeu Thị trường vàng sáng 11/8: Giảm trở lại khi lạm phát bớt “nóng”
thi truong vang sang 128 tiep da giam bat chap bac xanh suy yeu Thị trường vàng sáng 10/8: Giảm nhẹ sau phiên tăng

Tính đến 8h sáng nay (12/8) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 3 USD (-0,17%) so với mở cửa xuống 1.787,6 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.783,1 - 1.800,4 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12/2022 giảm 4,1 USD (-0,23%), hiện giao dịch quanh mức 1.803,1 USD/oz.

thi truong vang sang 128 tiep da giam bat chap bac xanh suy yeu

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,38%, trong khi giá vàng tương lai giảm 0,66%.

Giá vàng đã giảm trong hai phiên giao dịch liên tiếp vừa qua bất chấp xu hướng giảm kéo dài 5 ngày của bạc xanh, khi các nhà hoạch định chính sách của Fed vẫn giữ quan điểm điều hành hiện nay dù dữ liệu lạm phát lạc quan hơn.

Ở các bài phát biểu trước công chúng mới đây, các quan chức Fed như Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Fed San Francisco, Mary Daly đã đề cập rằng bà sẵn sàng ủng hộ mức tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản vào tháng Chín. Trong khi đó, Chủ tịch Fed Minneapolis, Neel Kashkari thì nói rằng ông "không thấy bất cứ điều gì thay đổi" và vẫn cần nâng lãi suất chính sách của Fed lên 3,9% vào cuối năm và lên 4,4% vào cuối năm 2023. Còn Chủ tịch Fed Chicago, Charles Evans thì gọi lạm phát ở mức cao hiện nay là “không thể chấp nhận được”...

Hôm qua, chỉ số giá sản xuất Mỹ (PPI) tháng Bảy được công bố mới mức giảm 9,8% so với cùng kỳ, thấp hơn dự báo của thị trường trước đó. Chỉ số PPI hàng tháng đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 5/2020, qua đó cho thấy lo ngại lạm phát có thể sẽ giảm bớt.

Dữ liệu vừa được công bố đã khiến nhiều người tin rằng lạm phát có thể đã đạt đỉnh và sẽ có xu hướng hạ nhiệt trong những tháng tới. Điều đó có thể đã phần nào thúc đẩy niềm tin của người tiêu dùng Mỹ và thúc đẩy thị trường chứng khoán.

Các yếu tố trên đang được cho là bất lợi đối với vàng trong ngắn hạn.

“Vàng đang dao động gần mốc quan trọng 1.800 USD/oz khi thị trường hạ kỳ vọng nâng lãi suất và bạc xanh yếu hơn, mặc dù phần lớn những phát biểu của quan chức Fed tiếp tục gợi ý về đợt nâng lãi suất cao hơn trong cuộc họp sắp tới”, giám đốc giao dịch kim loại tại High Ridge Futures, David Meger nói.

Trên góc độ kỹ thuật, giá vàng đang dao động quanh đường hỗ trợ ba tuần sau khi thoát khỏi mức kháng cự hàng tuần, tương ứng với mức thoái lui Fib 61,8%.

Hiện, mức kháng cự gần nhất được ghi nhận ở 1.804,30 USD/oz và sau đó là mức cao nhất của tuần này là 1.814,40 USD/oz.

Mức hỗ trợ gần nhất được ghi nhận ở 1.788,50 USD và sau đó là mức thấp nhất của tuần này là 1.776,20 USD/oz.

thi truong vang sang 128 tiep da giam bat chap bac xanh suy yeu

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 66,20 - 67,20 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 66,20 - 67,22 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM được niêm yết tại 66,50 - 67,20 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước.

Tại Hà Nội, giá vàng DOJI được niêm yết tại 66,10 - 67,10 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.650 23.960 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.700 23.980 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.680 23.980 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.600 23.900 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.690 23.960 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.650 24.000 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.700 23.950 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.678 23.990 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.570 24.025 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.740 24.000 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.750
65.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.750
65.750
Vàng SJC 5c
64.750
65.770
Vàng nhẫn 9999
51.100
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.600