Chỉ số kinh tế:
Ngày 16/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.131 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.925/26.337 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
dai-hoi-dang

Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ IV: Tiền đời Vua Trần Minh Tông (1314-1329)

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Năm 1314, vua Trần Anh Tông nhường ngôi cho Thái tử Mạnh (tức Vua Trần Minh Tông). Vua Trần Minh Tông lên ngôi, đổi niên hiệu là Đại Khánh (1314-1323)...
aa
Tiền triều Trần (1225 - 1400) - Kỳ I Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258) Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ III: Tiền đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278)

Tiếp theo Kỳ III: Tiền đời Vua Trần Thánh Tông (1258-1278), theo ghi nhận tại Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, sau đời vua Trần Thánh Tông, đến các đời vua Trần Nhân Tông (1279-1293) và Trần Anh Tông (1293-1314), kéo dài 35 năm, không hề thấy sử sách ghi chép gì về việc đúc tiền. Phải chăng, trong thời gian này, triều Trần phải lo chống quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ hai và lần thứ ba. Kinh đô Thăng Long hai lần bị quân Nguyên cướp phá, thêm vào đó, khởi nghĩa nông dân lại diễn ra liên miên. Nỗ lực của triều đình phải tập trung chống quân Nguyên, nguyên liệu đồng dành ưu tiên đúc vũ khí. Với hoàn cảnh như vậy, việc đúc tiền ít có cơ hội thực hiện.

"Cho tới hiện nay, chưa có một phát hiện nào liên quan đến tiền của thời kỳ này", theo Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Năm 1314, vua Trần Anh Tông nhường ngôi cho Thái tử Mạnh (tức Vua Trần Minh Tông). Vua Trần Minh Tông lên ngôi, đổi niên hiệu là Đại Khánh (1314-1323). Để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, buôn bán giao thương thì cần phải có tiền tệ. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quý Hợi, [Đại Khánh] năm thứ 10 [1323]… Mùa đông, tháng 11, đúc tiền kẽm”. Tuy nhiên, cho đến nay cũng chưa có ai nhìn thấy tiền kẽm Đại Khánh, có thể do chất liệu này rất dễ bị biến dạng trong tiêu dùng và dễ bị phân hủy trong tự nhiên. Mặc dầu vậy, danh mục tiền Việt Nam vẫn ghi nhận đồng Đại Khánh thông bảo của đời vua Trần Minh Tông.

Năm 1324, vua Trần Minh Tông đổi niên hiệu là Khai Thái (1324-1329), ra lệnh cấm tiền kẽm và cho đúc tiền đồng Khai Thái nguyên bảo. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn chép: “Giáp Tý, Khai Thái năm thứ 1[1324]… Mùa đông, tháng 12, cấm tiền kẽm” .

Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Khai Thái nguyên bảo” - 開泰元寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Tiền Khai Thái nguyên bảo 開泰元寳 có 2 loại:

- Loại thứ nhất: Khổ chữ nhỏ, nét chữ rõ ràng. Lưng tiền đúc nổi chữ “Trần” - 陳 theo kiểu Chân thư ở trên lỗ vuông, có nghĩa là triều Trần. Biên tiền trước nhỏ, biên tiền sau mờ. Tiền rất mỏng. Loại tiền này phát hiện được rất ít. Đường kính 24mm, dày 0,9mm, nặng 1,7gr.

Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ IV: Tiền đời Vua Trần Minh Tông (1314-1329)

Tiền Khai Thái nguyên bảo 開泰元寳,kiểu Chân thư, lưng tiền đúc chữ “Trần” - 陳, đường kính 24mm

- Loại thứ hai: Loại tiền này có nhiều dạng: chữ to, chữ nhỏ, loại chữ “Bảo”- 寳 có bộ Bối (貝) tròn, loại chữ “Bảo” - 寳 lùn, loại chữ “Bảo”- 寳 có bộ Bối (貝)vuông, loại chữ “Nguyên”- 元 nhỏ, loại chữ “Nguyên”- 元 to. Lưng tiền để trơn. Biên tiền trước và sau rộng. Đường kính 24,5mm, dày 1,5mm, nặng 3,6gr.

Loại tiền lưng trơn phát hiện được nhiều hơn loại tiền lưng có chữ “Trần”- 陳.

Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ IV: Tiền đời Vua Trần Minh Tông (1314-1329)

Tiền Khai Thái nguyên bảo 開泰元寳,kiểu Chân thư, lưng tiền trơn, đường kính 24,5 mm

Sau đời vua Trần Minh Tông, vua Trần Hiến Tông lên ngôi năm 1329, đặt niên hiệu là Khai Hựu (1329-1341) nhưng không thấy sử cũ ghi chép việc đúc tiền.

Đón đọc Kỳ V: Tiền đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369)


Nguồn: Tác phẩm: ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Biên tập: Mạnh - Thắng | Đồ họa: Văn Lâm

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ I

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ I

Cũng trong tháng 10 năm 1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tập trung một số họa sĩ (Nguyễn Huyến, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Lê Phả…) bắt đầu vẽ và in những tờ giấy bạc Việt Nam đầu tiên. Sau đó, các loại giấy bạc mệnh giá 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng được in ấn và phát hành từ năm 1945 đến năm 1951.
Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Tài chính có cả tiền kim loại và tiền giấy, được Bộ Tài chính phát hành từ năm 1945 đến năm 1951 ở khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (bao gồm các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tiền tài chính lấy đồng làm đơn vị tiền tệ, không sử dụng đơn vị tiền tệ của Pháp. Những đồng tiền tài chính này của Chính phủ Trung ương được gọi là Tiền Tài chính hay Tiền Trung ương.
Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ II

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ II

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền sau đây cung cấp các tiêu chí, tiêu chuẩn để xác định tờ tiền trong lưu thông thành tiền đủ/không đủ tiêu chuẩn lưu thông (KĐTCLT) đối với 6 mệnh giá tiền polymer 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ khi phân loại bằng máy kiểm đếm, phân loại tiền.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ II

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ II

Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ I

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ I

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền sau đây cung cấp các tiêu chí, tiêu chuẩn để xác định tờ tiền trong lưu thông thành tiền đủ/không đủ tiêu chuẩn lưu thông (KĐTCLT) đối với 6 mệnh giá tiền polymer 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ khi phân loại bằng máy kiểm đếm, phân loại tiền.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta gồm ba nước là Mỹ, Anh và Liên Xô, ngày 13/9/1945, quân đồng minh Anh tiến vào tiếp quản Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục được vũ trang, giải giáp quân Nhật và sau đó mở rộng đánh chiếm lại Nam Kỳ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị tại miền Nam Việt Nam. Ngân hàng Đông Dương cũng khôi phục lại việc phát hành tiền và lưu thông trong vùng chiếm đóng.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta gồm ba nước là Mỹ, Anh và Liên Xô, ngày 13/9/1945, quân đồng minh Anh tiến vào tiếp quản Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục được vũ trang, giải giáp quân Nhật và sau đó mở rộng đánh chiếm lại Nam Kỳ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị tại miền Nam Việt Nam. Ngân hàng Đông Dương cũng khôi phục lại việc phát hành tiền và lưu thông trong vùng chiếm đóng.